Sáng 28/8, Quảng Ninh long trọng công bố Nghị quyết số 36/2026/QH16 của Quốc hội về thành lập thành phố Quảng Ninh. Từ ngày 1/9/2026, một tên gọi mới, một tầm vóc mới và cùng với đó là một trách nhiệm lớn hơn mở ra đối với vùng đất địa đầu Đông Bắc.

Nhưng điều đáng chú ý nhất không nằm ở sự thay đổi tên gọi hay mô hình tổ chức. Trong thông điệp tại lễ công bố, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đây phải là “một bước chuyển về chất”: quản trị hiện đại hơn, kinh tế xanh hơn, hạ tầng đồng bộ hơn, văn hóa được tôn vinh hơn và cuộc sống nhân dân tốt đẹp hơn. Với Quảng Ninh, đó cũng chính là thời điểm để du lịch bước từ vị trí một ngành kinh tế quan trọng trở thành một trong những động lực kiến tạo diện mạo mới của thành phố.
Từ “vùng mỏ” đến “thành phố di sản”
Than đã làm nên một phần lịch sử và bản sắc Quảng Ninh. Nhưng như thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, tương lai Quảng Ninh không thể chỉ có than. Quảng Ninh phải “đi lên từ than, vượt lên trên than”, phát triển bằng tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế biển và kinh tế di sản. Trong bức tranh ấy, du lịch có một vị trí đặc biệt.
Bởi hiếm có nơi nào trong một không gian phát triển lại hội tụ được nhiều lớp tài nguyên như Quảng Ninh: vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, nơi phát tích thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thương cảng Vân Đồn, chuỗi di tích Nhà Trần, vùng công nghiệp mỏ Cẩm Phả-Vàng Danh-Mạo Khê, cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô; biển, đảo, rừng, núi, biên giới; di sản thiên nhiên, di sản văn hóa, lịch sử và đời sống cộng đồng.
Nếu trước đây du khách đến Quảng Ninh chủ yếu được dẫn tới một vài “điểm sáng” như Hạ Long, thì thành phố Quảng Ninh có cơ hội tổ chức lại toàn bộ không gian ấy thành một hệ sinh thái điểm đến. Một hành trình có thể bắt đầu từ Hạ Long, nối sang Bái Tử Long, Vân Đồn; từ biển đảo đi lên Yên Tử; từ không gian tâm linh đến những bản làng Đường Hoa; từ miền di sản đến cửa khẩu Hoành Mô và Móng Cái. Khi ấy, Quảng Ninh không còn chỉ bán một chuyến tham quan vịnh, mà bán một hành trình khám phá một vùng đất. Đây là dư địa rất lớn để tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và giá trị gia tăng từ mỗi du khách.
Thực tế, du lịch đã và đang giữ vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Ninh. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu đón trên 22 triệu lượt khách (điều chỉnh 22,5 triệu), khoảng 5 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu du lịch ít nhất 65.000 tỷ đồng. Chỉ trong 5 tháng đầu năm, Quảng Ninh đã đón hơn 10,1 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 2,23 triệu lượt, tổng thu khoảng 27.684 tỷ đồng. Những con số ấy cho thấy du lịch không còn là “phần mềm” đi kèm cảnh quan. Nó đã trở thành một ngành kinh tế tạo dòng tiền, việc làm và sức lan tỏa lớn, có khả năng kéo theo thương mại, vận tải, dịch vụ, văn hóa, nông nghiệp, công nghiệp sáng tạo và kinh tế biển.
Xanh hóa du lịch, xanh hóa tương lai
Điểm đặc biệt của cơ hội lần này là Quảng Ninh không bắt đầu từ con số không. Nhiều năm qua, địa phương đã kiên trì chuyển dịch mô hình từ “nâu” sang “xanh”, trong đó du lịch-dịch vụ chất lượng cao ngày càng giữ vai trò nổi bật. Bước sang giai đoạn thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu ấy cần được nâng lên một chuẩn mực mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo: mỗi dự án phải được cân nhắc trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường; không đánh đổi di sản, môi trường và chất lượng sống để lấy tăng trưởng ngắn hạn. Du lịch phải được phát triển chuyên nghiệp, văn minh và có trách nhiệm; công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và kinh tế di sản cần trở thành những động lực mới.
Đây chính là “bộ lọc xanh” cho du lịch Quảng Ninh. Bởi tài sản lớn nhất của du lịch Quảng Ninh không phải những công trình có thể xây dựng thêm, mà là những gì không thể làm lại: màu xanh của Hạ Long, vẻ đẹp của Bái Tử Long, linh khí Yên Tử, những làng bản vùng cao, những không gian văn hóa ven biển và ký ức của một vùng đất.
Vì thế, phát triển du lịch xanh không thể chỉ dừng ở việc trồng thêm cây xanh hay sử dụng vài sản phẩm thân thiện môi trường. Đó phải là sự thay đổi trong toàn bộ chuỗi giá trị: từ tàu du lịch, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, phương tiện vận chuyển đến quản lý rác thải, nước thải, năng lượng, bảo tồn cảnh quan và kiểm soát sức chứa điểm đến.
Một vịnh Hạ Long xanh phải đi cùng những con tàu xanh hơn. Một khu du lịch xanh phải có hạ tầng xử lý chất thải tương xứng. Một điểm đến di sản phải tạo được sinh kế cho cộng đồng thay vì đẩy người dân ra ngoài quá trình phát triển. Đó cũng là cách để biến bảo tồn thành nguồn lực.
Khi người dân miền núi có thể sống bằng du lịch cộng đồng; ngư dân có thêm sinh kế từ du lịch biển đảo; các nghệ nhân, làng nghề, sản vật địa phương tham gia vào chuỗi giá trị; những giá trị lịch sử, văn hóa được biểu đạt bằng công nghệ và các sản phẩm sáng tạo – khi ấy, di sản không chỉ được “giữ lại”, mà thực sự sống cùng nền kinh tế hiện đại.
Một thành phố mới, một cách làm du lịch mới

Quảng Ninh đang có một lợi thế mà không nhiều địa phương sở hữu: hệ thống cao tốc, sân bay, cảng biển, cửa khẩu và các tuyến giao thông liên vùng đã tạo nên năng lực kết nối hiếm có. Trung ương cũng định hướng Quảng Ninh trở thành cực tăng trưởng năng động của phía Bắc, trung tâm kinh tế biển, du lịch, dịch vụ và công nghiệp công nghệ cao.
Vấn đề còn lại là biến năng lực kết nối thành năng lực giữ chân du khách.Thành phố Quảng Ninh cần chuyển mạnh từ tư duy “đón khách đến Hạ Long” sang tư duy “giữ khách ở lại Quảng Ninh”. Một du khách đến Hạ Long hôm nay, ngày mai có thể trải nghiệm Yên Tử; ngày tiếp theo khám phá Vân Đồn – Bái Tử Long; rồi lên Hoành Mô, sang Móng Cái. Mỗi địa phương không còn là một “ốc đảo du lịch”, mà trở thành một chuỗi trong một hành trình du lịch lớn.
Đó là lúc lợi thế về không gian được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh.
Đáng chú ý, ngay trước thời điểm chính thức thành lập thành phố, Quảng Ninh đã triển khai Tuần lễ kích cầu du lịch “Chào thành phố mới”, với chủ đề “Thành phố Quảng Ninh, vươn tầm cùng Di sản”; trong đó có những sản phẩm giàu tính biểu tượng như trình diễn ánh sáng tàu du lịch trên vịnh Hạ Long. Nhưng một chuỗi sự kiện chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo được một cú hích lâu dài cho thị trường.
Thành phố mới cần nhiều hơn những lễ hội lớn. Cần những sản phẩm mới. Cần đội ngũ doanh nghiệp du lịch chuyên nghiệp hơn. Cần những con tàu, khách sạn, khu nghỉ dưỡng và điểm đến đạt chuẩn xanh. Cần dữ liệu, công nghệ để quản trị dòng khách. Và trên hết, cần một cách tiếp cận thống nhất để Hạ Long, Yên Tử, Bái Tử Long, Vân Đồn, Hoành Mô, Móng Cái… cùng nằm trong một chiến lược du lịch chung.
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Quản Minh Cường đã khẳng định quyết tâm đoàn kết, giữ vững kỷ cương, đổi mới mạnh mẽ, hành động quyết liệt để xây dựng thành phố trở thành hình mẫu phát triển xanh, hiện đại, sáng tạo và hội nhập quốc tế. Đó là một cam kết lớn, nhưng cũng là một cơ hội lớn. Bởi khi Quảng Ninh chuyển từ “tỉnh” sang “thành phố”, điều cần thay đổi trước hết không phải là cách gọi, mà là cách nghĩ về giá trị.
Không phải khai thác nhiều hơn, mà tạo ra giá trị cao hơn từ những gì đang có. Không phải đón thật nhiều khách bằng mọi giá, mà thu hút những dòng khách chất lượng, ở lâu hơn, chi tiêu cao hơn và để lại tác động tích cực hơn. Không phải xây thêm thật nhiều công trình, mà xây dựng một không gian đô thị – du lịch hài hòa với thiên nhiên và di sản. Du lịch sẽ góp phần làm nên chính hình ảnh thành phố.

Từ vùng mỏ đến thành phố biển; từ “nâu” sang “xanh”; từ khai thác tài nguyên đến phát huy tri thức, công nghệ và di sản-Quảng Ninh đang đứng trước một bước ngoặt hiếm có. Và trong bước ngoặt ấy, Hạ Long không chỉ cần tiếp tục là một kỳ quan để thế giới tìm đến. Quảng Ninh cần trở thành một thành phố xanh để du khách muốn đến, muốn ở lại và muốn trở lại- một nơi mà di sản được bảo tồn bằng chính sự phát triển, và sự phát triển được đo bằng những giá trị bền vững mà Quảng Ninh để lại cho các thế hệ mai sau.
Vũ Phong Cầm