Hội thảo quy tụ đại diện các cơ quan quản lý du lịch, y tế, các địa phương, chuyên gia, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp nhằm hướng tới kiến tạo khung chính sách liên ngành, chuẩn hóa chất lượng và hình thành hệ sinh thái du lịch chăm sóc sức khỏe có bản sắc, sức cạnh tranh quốc tế.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, khẳng định du lịch chăm sóc sức khỏe đang từng bước trở thành phân khúc có giá trị gia tăng cao, có khả năng thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực cùng phát triển.
Theo ông Hà Văn Siêu, Việt Nam sở hữu nền tảng quan trọng để hình thành những sản phẩm chăm sóc sức khỏe mang bản sắc riêng, nhưng tiềm năng chưa được chuyển hóa tương xứng thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Những hạn chế về tiêu chuẩn chất lượng, nhân lực, cơ chế liên kết và tổ chức chuỗi dịch vụ đang đặt ra yêu cầu phải có một định hướng phát triển bài bản, khoa học và khả thi.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới được xác định là điểm tựa quan trọng. Tinh thần phát triển du lịch theo hướng chất lượng, giá trị gia tăng, thông minh, xanh, sáng tạo; tăng cường liên ngành, liên vùng và phát triển theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp tạo cơ sở để Việt Nam định hình một cách tiếp cận mới đối với du lịch chăm sóc sức khỏe.

Từ định hướng đó, Hội thảo tập trung làm rõ năm vấn đề: thực trạng và điểm nghẽn; cấu trúc sản phẩm cốt lõi; mô hình hệ sinh thái liên ngành; lựa chọn địa phương thí điểm; cùng các cơ chế, chính sách và giải pháp có thể triển khai trong thực tế. Thông qua việc chủ trì xây dựng Đề án, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò kiến tạo chính sách, kết nối các bộ, ngành và hỗ trợ địa phương nhận diện lợi thế, xây dựng sản phẩm đặc thù. Đây là nền tảng để du lịch chăm sóc sức khỏe không phát triển tự phát, manh mún mà từng bước hình thành tiêu chuẩn, thương hiệu và chuỗi giá trị thống nhất.
Từ tiềm năng tài nguyên đến một sản phẩm du lịch giá trị cao
Du lịch chăm sóc sức khỏe đang chuyển nhanh từ một thị trường ngách thành phân khúc có giá trị cao của kinh tế du lịch toàn cầu. Theo số liệu được dẫn tại Hội thảo, chi tiêu du lịch chăm sóc sức khỏe toàn cầu đạt 893,9 tỷ USD năm 2024 và được dự báo đạt khoảng 1.383,3 tỷ USD vào năm 2029. Mức chi tiêu bình quân cho một chuyến du lịch chăm sóc sức khỏe khoảng 721 USD, cao hơn hai lần mức bình quân của các chuyến du lịch nói chung. Sự tăng trưởng này phản ánh thay đổi rõ nét trong nhu cầu của du khách. Một chuyến đi ngày nay không chỉ để tham quan hay nghỉ ngơi, mà còn hướng tới cải thiện thể chất, cân bằng tinh thần, phục hồi năng lượng, quản trị giấc ngủ, dinh dưỡng lành mạnh và nâng cao chất lượng sống.
Việt Nam có nhiều điều kiện để tham gia sâu hơn vào thị trường này: địa hình đa dạng từ núi, rừng, cao nguyên đến biển; khoảng 400 nguồn suối khoáng; khí hậu phân hóa; hệ sinh thái dược liệu phong phú với khoảng 3.850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc; nền y học cổ truyền lâu đời; hệ thống nghỉ dưỡng ngày càng phát triển và kho tàng tri thức chăm sóc sức khỏe của các cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên, phần lớn tiềm năng vẫn tồn tại dưới dạng tài nguyên hoặc dịch vụ riêng lẻ. Nhiều sản phẩm mới dừng ở spa, massage, tắm khoáng hay nghỉ dưỡng thông thường; liên kết giữa du lịch với y tế, y học cổ truyền, dược liệu, thể thao, dinh dưỡng, bảo hiểm và công nghệ còn hạn chế. Việt Nam cũng chưa có hệ thống tiêu chuẩn thống nhất, nguồn nhân lực chuyên biệt và thương hiệu quốc gia đủ mạnh cho phân khúc này.
Việc xây dựng Đề án “Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam đến năm 2030” vì thế không chỉ nhằm bổ sung một dòng sản phẩm mới, mà còn mở ra hướng tái cơ cấu du lịch theo chiều sâu, nâng mức chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng giá trị trên mỗi du khách
Ngành Y tế đặt an toàn và quyền lợi du khách làm trung tâm
Từ góc độ y tế, TS. Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, cho rằng trước hết cần phân định rõ du lịch chăm sóc sức khỏe với du lịch y tế.
Du lịch chăm sóc sức khỏe chủ yếu phục vụ người có tình trạng sức khỏe bình thường, hướng tới duy trì, nâng cao thể chất và tinh thần. Trong khi đó, du lịch y tế gắn với chẩn đoán, điều trị, can thiệp chuyên môn hoặc phục hồi chức năng. Việc phân định rõ phạm vi sẽ giúp quản lý đúng mức độ rủi ro, tránh “y tế hóa” các hoạt động wellness thông thường, đồng thời ngăn chặn tình trạng cung cấp dịch vụ có bản chất khám, chữa bệnh dưới tên gọi thương mại về chăm sóc sức khỏe.
Việt Nam hiện có 2.107 bệnh viện với hơn 339.000 giường bệnh và trên 105.000 bác sĩ. Mạng lưới y học cổ truyền gồm 65 bệnh viện chuyên khoa; 82% bệnh viện đa khoa có khoa hoặc tổ y học cổ truyền. Đến tháng 8/2026, Việt Nam có 13 bệnh viện đạt chứng nhận JCI và ba bệnh viện đạt chứng nhận ACHS. Lượng khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam ước đạt khoảng 300.000 lượt mỗi năm. Đây là nền tảng đáng kể, nhưng khoảng cách về chứng nhận quốc tế, ngoại ngữ chuyên ngành, nhân lực điều phối, tiêu chuẩn dịch vụ và liên kết giữa bệnh viện với doanh nghiệp lữ hành vẫn còn khá lớn.
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề xuất lấy người sử dụng dịch vụ làm trung tâm; bảo đảm an toàn, chất lượng, quyền lợi và khả năng xử lý tình huống trong toàn bộ hành trình. Những hoạt động có yếu tố chuyên môn y tế phải tuân thủ pháp luật về khám, chữa bệnh, dược và hành nghề, không phụ thuộc dịch vụ được cung cấp tại bệnh viện hay khu nghỉ dưỡng.
Hai ngành y tế và du lịch cần phối hợp xây dựng tiêu chuẩn, cơ chế đánh giá và công nhận; chuẩn hóa gói dịch vụ trước, trong và sau chuyến đi; phát triển nhân lực điều phối viên du lịch y tế, phiên dịch viên y tế, điều phối bảo hiểm quốc tế; xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và bảo vệ chặt chẽ dữ liệu sức khỏe của du khách.
Lào Cai có thể trở thành điểm thí điểm của vùng Tây Bắc
Được lựa chọn đăng cai Hội thảo, Lào Cai cho thấy nhiều lợi thế để trở thành địa phương tiên phong xây dựng sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe mang bản sắc vùng cao.
Đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai cho biết không gian phát triển mới của tỉnh hội tụ khí hậu núi cao, rừng Hoàng Liên, hệ thống khoáng nóng, hồ và sông, vùng dược liệu cùng tri thức chăm sóc sức khỏe của các dân tộc Dao, Mông, Thái.
Sa Pa, Y Tý, Bắc Hà, Mậu A, Văn Chấn, Mường Lò, Phình Hồ, Tú Lệ, Khau Phạ, Mù Cang Chải và hồ Thác Bà tạo nên một chuỗi tài nguyên có khả năng phát triển nhiều lớp sản phẩm: nghỉ dưỡng núi, tắm rừng, khoáng nóng, tắm thảo dược, thiền, yoga, ẩm thực bản địa, thể thao ngoài trời và phục hồi tinh thần.

Lào Cai định hướng xây dựng “Vành đai Du lịch Wellness Tây Bắc”, kết nối trung tâm Sa Pa - Y Tý với vùng sinh thái Thác Bà - Bắc Hà; chuẩn hóa sản phẩm nhưng vẫn bảo đảm mỗi liệu trình kể được câu chuyện về thiên nhiên, văn hóa và tri thức cộng đồng.
Tỉnh dự kiến chuẩn hóa năm tuyến famtrip wellness đặc trưng, gồm: nghỉ dưỡng sinh thái sông Hồng và tắm lá thuốc Dao đỏ tại Mậu A; khoáng nóng, ẩm thực dưỡng sinh và trải nghiệm bản địa tại Văn Chấn - Mường Lò - Phình Hồ; spa khoáng nóng, cốm Tú Lệ và thể thao mạo hiểm tại Tú Lệ - Khau Phạ - Mù Cang Chải; nghỉ dưỡng núi cao và dược liệu tại Sa Pa; wellness gắn với cảnh quan, văn hóa và cộng đồng dọc sông Chảy - hồ Thác Bà.

Sự kết hợp giữa khí hậu, dược liệu, tri thức bản địa và sinh kế cộng đồng giúp Lào Cai có khả năng phát triển một mô hình khác biệt, thay vì chỉ cạnh tranh bằng cơ sở lưu trú hay dịch vụ spa. Đây cũng là địa phương phù hợp để thí điểm tiêu chuẩn sản phẩm, mô hình liên kết và cơ chế chia sẻ lợi ích với người dân.
Viện Kinh tế Du lịch Việt Nam đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp chuyển từ dịch vụ đơn lẻ sang chuỗi giá trị
Tham luận tại Hội thảo, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch thuộc Hiệp hội Du lịch Việt Nam, đề xuất khung phát triển “một hệ sinh thái - ba tầng sản phẩm - sáu trụ cột chính sách”.
Ba tầng sản phẩm gồm du lịch chăm sóc sức khỏe thuần túy; chăm sóc sức khỏe có yếu tố chuyên môn y tế; và du lịch y tế. Cách phân tầng này giúp áp dụng cơ chế quản lý tương ứng với mức độ rủi ro, vừa bảo đảm an toàn, vừa tránh tạo thêm thủ tục không cần thiết cho doanh nghiệp.
Sáu trụ cột chính sách gồm: thể chế và tiêu chuẩn; tài nguyên và không gian điểm đến; sản phẩm và chuỗi liên kết; đầu tư, doanh nghiệp và cộng đồng; nguồn nhân lực và khoa học công nghệ; thị trường, thương hiệu và dữ liệu.
Một đề xuất đáng chú ý là xây dựng nhãn chất lượng tự nguyện “Vietnam Wellness” nhằm nhận diện cơ sở, chương trình và điểm đến đạt chuẩn. Nhãn chất lượng không thay thế các giấy phép pháp lý hiện hành, mà đóng vai trò nâng chuẩn, tạo niềm tin cho thị trường và hỗ trợ xúc tiến quốc gia.
Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ ưu đãi cho từng công trình đơn lẻ sang hỗ trợ cả chuỗi giá trị, kết nối tài nguyên, vùng nguyên liệu, cơ sở lưu trú, dịch vụ chăm sóc, nhân lực, cộng đồng và thị trường. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ đào tạo, tiêu chuẩn hóa quy trình, truy xuất nguồn gốc dược liệu, chuyển đổi số, kết nối lữ hành và tham gia các chương trình xúc tiến chung.
Hiệp hội Du lịch Việt Nam có thể phát huy vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp du lịch, cơ sở y tế, cơ sở đào tạo, tổ chức bảo hiểm và cộng đồng; đồng thời tham gia xây dựng tiêu chuẩn nghề, đào tạo nhân lực, công nhận sản phẩm và quảng bá thương hiệu.
Giai đoạn 2027-2030, Việt Nam được đề xuất lựa chọn từ 5-7 cụm điểm đến thí điểm, mỗi cụm có định vị riêng, doanh nghiệp đầu mối, kế hoạch nhân lực, thị trường và chỉ số đánh giá. Lào Cai - Sa Pa - Tả Phìn; Quảng Ninh; Huế - Đà Nẵng; Khánh Hòa; Lâm Đồng và các trung tâm đô thị lớn là những hướng có thể nghiên cứu.
Hướng tới thương hiệu Vietnam Wellness
Các tham luận tại Hội thảo cùng gặp nhau ở một điểm: lợi thế cạnh tranh của Việt Nam không nằm ở việc sao chép onsen Nhật Bản, Ayurveda của Ấn Độ hay mô hình spa của Thái Lan. Giá trị khác biệt phải được xây dựng từ thiên nhiên, khí hậu, y dược cổ truyền, dược liệu, văn hóa và tri thức bản địa Việt Nam.
Từ nền tảng đó, Việt Nam có thể hình thành những dòng sản phẩm quốc gia như khoáng nóng và thủy trị liệu; y học cổ truyền và thảo dược; thiền và chăm sóc sức khỏe tinh thần; tắm rừng và nghỉ dưỡng khí hậu; ẩm thực dưỡng sinh; chăm sóc người trung niên, cao tuổi; cùng các chương trình phục hồi giấc ngủ và cân bằng lối sống.
Mỗi sản phẩm cần được đóng gói thành chương trình ba ngày, năm ngày hoặc bảy ngày, có mục tiêu, quy trình, tiêu chuẩn, chống chỉ định, cơ chế xử lý sự cố và đánh giá trải nghiệm rõ ràng. Đây là điều kiện để doanh nghiệp lữ hành có thể đưa sản phẩm ra thị trường, định giá theo giá trị và xây dựng niềm tin với khách hàng.
Hội thảo tại Lào Cai là bước tiếp theo trong quá trình Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tập hợp cơ sở khoa học, thực tiễn địa phương và ý kiến của các ngành để hoàn thiện Đề án. Khi khung chính sách được phân định rõ, tiêu chuẩn tạo được niềm tin, địa phương khai thác đúng lợi thế và doanh nghiệp được hỗ trợ tham gia chuỗi giá trị, du lịch chăm sóc sức khỏe có thể trở thành một dòng sản phẩm chủ đạo, đóng góp thiết thực vào mục tiêu nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam.
Đích đến đến năm 2030 không chỉ là có thêm nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mà là hình thành những điểm đến, chương trình và hệ sinh thái có bản sắc, có chuẩn mực, chứng minh được chất lượng và được thị trường trong nước, quốc tế nhận diện. Đó cũng là nền tảng để “Vietnam Wellness” trở thành một giá trị thương hiệu mới của du lịch Việt Nam.