66 năm Ngành Du lịch Việt Nam: Từ dấu mốc lịch sử đến khát vọng phát triển trong bối cảnh mới

Trải qua 66 năm xây dựng và phát triển, ngành Du lịch Việt Nam đã chuyển mình từ hoạt động phục vụ đối ngoại trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Hành trình ấy không chỉ ghi dấu những thành tựu nổi bật mà còn mở ra khát vọng phát triển xanh, bền vững và hội nhập trong bối cảnh mới.
qd26cpcopy-1751513868-1783350762.jpg
Nghị định số 26-CP thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương.

Ngày 9 tháng 7 năm 1960 là dấu mốc đặc biệt trong lịch sử phát triển của ngành Du lịch Việt Nam. Với việc Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 26-CP thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương, hoạt động du lịch lần đầu tiên được tổ chức như một lĩnh vực có thiết chế chuyên trách ở cấp quốc gia, đặt nền móng cho quá trình hình thành, phát triển và trưởng thành của ngành Du lịch Việt Nam sau này. Từ một đơn vị chủ yếu phục vụ công tác đối ngoại, tiếp đón khách quốc tế, chuyên gia, đoàn ngoại giao trong điều kiện đất nước còn chiến tranh, du lịch Việt Nam đã từng bước chuyển mình, trở thành ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quảng bá hình ảnh quốc gia, bảo tồn văn hóa, mở rộng giao lưu quốc tế.

Nhìn lại chặng đường 66 năm, có thể thấy lịch sử ngành Du lịch Việt Nam không chỉ là lịch sử của một ngành dịch vụ, mà còn phản ánh sinh động tiến trình vận động của đất nước: từ chiến tranh đến hòa bình, từ cơ chế bao cấp đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ mở cửa hội nhập đến chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Mỗi giai đoạn phát triển của du lịch đều gắn với bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc tế của đất nước; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, thể chế, sản phẩm, thị trường và phương thức quản trị ngành.

tai-ban-sach-ve-lich-su-khach-san-metropole-hanoi-28-9881-1-1783351332.jpg
Khách sạn Metropole được xem là một trong những khách sạn lâu đời nhất Việt Nam.

1. Giai đoạn 1960 - 1975: Hình thành trong điều kiện chiến tranh, phục vụ nhiệm vụ đối ngoại và chính trị

Giai đoạn 1960 - 1975 là thời kỳ đặt nền móng ban đầu cho ngành Du lịch Việt Nam. Trong bối cảnh miền Bắc tiến hành xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, đồng thời chi viện cho miền Nam đấu tranh thống nhất đất nước, hoạt động du lịch chưa mang đầy đủ ý nghĩa của một ngành kinh tế theo cơ chế thị trường. Nhiệm vụ chủ yếu của du lịch khi đó là phục vụ các đoàn khách quốc tế, chuyên gia, nhà báo, tổ chức hữu nghị, đoàn ngoại giao đến Việt Nam; qua đó giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, văn hóa và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế.

cthcm-1783351487.jpg
Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu ngày 23-11-1963.

Dù điều kiện cơ sở vật chất còn rất hạn chế, chiến tranh phá hoại ác liệt, giao thông khó khăn, hệ thống lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn, phiên dịch còn sơ khai, nhưng chính trong hoàn cảnh đó, những hạt nhân đầu tiên của đội ngũ cán bộ du lịch Việt Nam đã được hình thành. Du lịch giai đoạn này mang đậm chức năng chính trị - đối ngoại, đồng thời đặt nền móng cho các nghiệp vụ căn bản như đón tiếp, hướng dẫn, lưu trú, vận chuyển, tổ chức chương trình tham quan và giới thiệu văn hóa Việt Nam.

Có thể nói, đây là giai đoạn “khai sinh” của ngành, khi du lịch chưa phải là một lĩnh vực kinh doanh đúng nghĩa, nhưng đã đóng vai trò cầu nối giao lưu, kênh truyền thông quốc tế và phương tiện góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam trong lòng bạn bè năm châu.

2. Giai đoạn 1975 - 1986: Mở rộng trong thời kỳ đất nước thống nhất, nhưng còn chịu ràng buộc của cơ chế bao cấp

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, không gian phát triển du lịch được mở rộng trên phạm vi cả nước. Những tài nguyên du lịch quan trọng ở cả hai miền, từ di sản văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, danh lam thắng cảnh, bãi biển, đô thị, vùng núi, vùng đồng bằng đến các trung tâm văn hóa lớn, bắt đầu được đặt trong một chỉnh thể quốc gia thống nhất. Đây là điều kiện quan trọng để ngành Du lịch từng bước mở rộng mạng lưới tổ chức và hoạt động.

ttgphamvandong-1783351579.jpg
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Khu di tích lịch sử Côn Sơn tháng 2/1976.

Tuy nhiên, do nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đời sống nhân dân còn khó khăn, kết cấu hạ tầng yếu, quan hệ quốc tế chưa mở rộng, du lịch chưa có điều kiện phát triển như một ngành kinh tế dịch vụ hiện đại. Hoạt động du lịch chủ yếu vẫn phục vụ nhiệm vụ đối ngoại, trao đổi đoàn, nghỉ dưỡng theo chế độ, tham quan trong nước theo kế hoạch. Cung - cầu du lịch chưa vận hành theo cơ chế thị trường; doanh nghiệp du lịch chưa thực sự có động lực cạnh tranh; sản phẩm còn nghèo nàn; chất lượng dịch vụ còn hạn chế.

Dẫu vậy, giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ ngành Du lịch bắt đầu nhận diện đầy đủ hơn tiềm năng to lớn của đất nước thống nhất. Các trung tâm du lịch lớn, tuyến du lịch liên vùng, cơ sở lưu trú và đội ngũ nhân lực dần được hình thành, tạo tiền đề để du lịch bước vào thời kỳ đổi mới sau năm 1986.

3. Giai đoạn 1986 - 1995: Đổi mới nhận thức, tư duy, khởi động quá trình phát triển du lịch như một ngành kinh tế quan trọng

Đại hội VI của Đảng năm 1986 mở ra công cuộc Đổi mới, tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, du lịch bắt đầu được nhìn nhận không chỉ là hoạt động phục vụ đối ngoại hay phúc lợi xã hội, mà còn là một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ có khả năng tạo nguồn thu, việc làm, thúc đẩy giao lưu quốc tế và đóng góp cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Dấu mốc đặc biệt quan trọng là việc Chính phủ thành lập lại Tổng cục Du lịch vào tháng 10 năm 1992 và ban hành Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 22/6/1993 về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch. Đây được xem là bước khởi đầu quan trọng cho giai đoạn phát triển mới, khi du lịch được xác định là ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Nếu năm 1990 Việt Nam mới đón khoảng 250.000 lượt khách quốc tế, đến năm 1994, ngành Du lịch đã đón được 1 triệu lượt khách quốc tế và đến năm 2019 con số này đã đạt khoảng 18 triệu lượt, phản ánh bước phát triển rất lớn của ngành trong gần ba thập kỷ sau Đổi mới.

image-20231013142445-2-1-1783352144.png
 

Giai đoạn 1986 - 1995 vì vậy có thể xem là thời kỳ “chuyển hệ” của du lịch Việt Nam: chuyển từ tư duy phục vụ sang tư duy kinh doanh; từ bao cấp sang thị trường; từ khép kín sang mở cửa; từ hoạt động phân tán sang hình thành hệ thống quản lý nhà nước, doanh nghiệp và thị trường du lịch ngày càng rõ nét. Đây cũng là giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp lữ hành quốc tế, khách sạn, vận chuyển du lịch, đào tạo nhân lực và quảng bá điểm đến Việt Nam.

4. Giai đoạn 1996 - 2010: Hội nhập, mở rộng thị trường và hình thành hệ thống sản phẩm du lịch quốc gia

Từ giữa thập niên 1990 đến năm 2010, du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng và hội nhập mạnh hơn. Đất nước mở rộng quan hệ quốc tế, tham gia nhiều cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện kết cấu hạ tầng, phát triển hàng không, đường bộ, đô thị và dịch vụ. Nhu cầu đi lại, nghỉ dưỡng, tham quan của người dân tăng lên cùng với quá trình đô thị hóa và nâng cao thu nhập.

diem-du-lich-01-1632671030-1783353189.jpg
Trong giai đoạn này, hình ảnh Việt Nam bắt đầu được định vị rõ hơn trên bản đồ du lịch khu vực và quốc tế. Ảnh: sưu tầm

Trong giai đoạn này, hình ảnh Việt Nam bắt đầu được định vị rõ hơn trên bản đồ du lịch khu vực và quốc tế. Các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Đà Lạt, Sa Pa, Phú Quốc, Cần Thơ từng bước khẳng định vai trò trong hệ thống điểm đến quốc gia. Các loại hình du lịch văn hóa, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, du lịch MICE, du lịch lễ hội, du lịch đô thị bắt đầu phát triển đa dạng hơn.

Một thành tựu quan trọng của giai đoạn này là từng bước hình thành hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển du lịch; nâng cao năng lực quản lý nhà nước; mở rộng đào tạo nhân lực; thúc đẩy xã hội hóa đầu tư du lịch. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng bộc lộ những hạn chế: sản phẩm còn trùng lặp, chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, năng lực cạnh tranh chưa cao, liên kết vùng yếu, môi trường du lịch ở nhiều nơi còn bất cập, đóng góp kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng.

5. Giai đoạn 2011 - 2019: Bứt phá tăng trưởng, khẳng định vai trò ngành kinh tế quan trọng

Giai đoạn 2011 - 2019 là một trong những thời kỳ tăng trưởng ấn tượng nhất của Du lịch Việt Nam. Cùng với việc triển khai Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ngành Du lịch đạt tốc độ tăng trưởng cao cả về khách quốc tế, khách nội địa, tổng thu, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực cạnh tranh điểm đến. Năm 2011 Việt Nam đón hơn 6 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ 30 triệu lượt khách nội địa; đến năm 2019, ngành đạt 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa và tổng thu từ du lịch khoảng 720 nghìn tỷ đồng.

Đây là giai đoạn du lịch Việt Nam chuyển từ tăng trưởng tiềm năng sang tăng trưởng quy mô lớn. Nhiều tập đoàn kinh tế trong nước đầu tư mạnh vào hạ tầng du lịch, khu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, cảng hàng không, đô thị du lịch, sản phẩm nghỉ dưỡng biển, du lịch golf, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa. Hàng không phát triển nhanh, kết nối quốc tế mở rộng, chính sách thị thực từng bước cải thiện, truyền thông số và mạng xã hội góp phần lan tỏa mạnh mẽ hình ảnh Việt Nam.

kqt15trieu-1783353836.jpg
Lễ đón vị khách quốc tế thứ 15 triệu đến Việt Nam trong năm 2018. Ảnh: TITC

Năm 2017, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là dấu mốc chiến lược, thể hiện sự thay đổi về vị thế của du lịch trong cấu trúc phát triển quốc gia. Từ đây, du lịch không chỉ được nhìn nhận là ngành dịch vụ có đóng góp kinh tế, mà còn là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, phát triển vùng, bảo tồn di sản, quảng bá văn hóa, mở rộng đối ngoại nhân dân và nâng cao vị thế quốc gia.

Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng làm rõ những vấn đề căn bản: mô hình phát triển còn thiên về số lượng; một số điểm đến có dấu hiệu quá tải; môi trường, cảnh quan, tài nguyên chịu sức ép; chất lượng nhân lực chưa theo kịp nhu cầu; sản phẩm chưa đủ chiều sâu; mức chi tiêu và thời gian lưu trú của khách còn hạn chế. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu tái cơ cấu ngành, chuyển từ tăng trưởng nóng sang phát triển chất lượng, xanh, bền vững và có khả năng chống chịu.\

6. Giai đoạn 2020 - 2021: Cú sốc Covid-19 và bài học về khả năng chống chịu của ngành

Đại dịch Covid-19 là cú sốc chưa từng có đối với du lịch toàn cầu nói chung và Du lịch Việt Nam nói riêng. Các đường bay quốc tế bị gián đoạn, thị trường khách quốc tế gần như đóng băng, doanh nghiệp lữ hành, lưu trú, vận chuyển, dịch vụ du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng, hàng triệu lao động trực tiếp và gián tiếp mất việc hoặc giảm thu nhập. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của ngành kể từ khi bước vào thời kỳ Đổi mới.

Tuy nhiên, chính trong khủng hoảng, du lịch Việt Nam đã bộc lộ những bài học quan trọng. Trước hết, thị trường nội địa chứng minh vai trò trụ đỡ chiến lược khi khách quốc tế sụt giảm. Thứ hai, chuyển đổi số trở thành yêu cầu bắt buộc chứ không còn là lựa chọn. Thứ ba, an toàn, sức khỏe, vệ sinh, bảo hiểm, khả năng ứng phó rủi ro trở thành yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của điểm đến. Thứ tư, mô hình phát triển dựa quá nhiều vào tăng trưởng khách quốc tế, khai thác tài nguyên và mở rộng quy mô cần được điều chỉnh theo hướng chất lượng, cân bằng, bền vững hơn.

2-min20-1783354229.png
Du khách đảm bảo các biện pháp an toàn mùa Covid. Ảnh: Danatravel

Đại dịch không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng du lịch, mà còn buộc ngành phải tự nhìn lại mô hình phát triển, năng lực quản trị rủi ro khủng hoảng, cơ cấu thị trường, chất lượng sản phẩm và vai trò của công nghệ. Đây là tiền đề cho giai đoạn phục hồi, tái cấu trúc và phát triển trong bối cảnh mới.

7. Giai đoạn 2022 - 2026: Phục hồi, tăng tốc và bước vào chu kỳ phát triển mới

Từ năm 2022, cùng với việc mở cửa trở lại hoạt động du lịch quốc tế, ngành Du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn phục hồi nhanh. Năm 2023 và 2024 chứng kiến sự trở lại mạnh mẽ của thị trường quốc tế, sự sôi động của du lịch nội địa, sự phục hồi của doanh nghiệp và sự gia tăng đầu tư vào các sản phẩm, điểm đến mới. Năm 2024, Việt Nam đón hơn 17,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 39,5% so với năm 2023.

c0a299bbc3351a6b4324-1670662616-1783354741.jpg
Hiệp hội Du lịch tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Đà Nẵng ký kết thỏa thuận liên kết xúc tiến, quảng bá du lịch trong khuôn khổ hội nghị giới thiệu, quảng bá du lịch Nghệ An và liên kết điểm đến.

Năm 2025, Du lịch Việt Nam tiếp tục lập kỷ lục mới khi đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm 2024, tạo nền tảng cho mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026. Bước sang năm 2026, xu hướng tăng trưởng tiếp tục được duy trì: trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón khoảng 10,6 triệu lượt khách quốc tế, mức cao nhất từng ghi nhận trong cùng kỳ.

Về tổ chức bộ máy, năm 2023 đánh dấu sự thay đổi quan trọng khi Tổng cục Du lịch được tổ chức lại thành Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Cục có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và thực thi pháp luật về du lịch trên phạm vi cả nước. Sự điều chỉnh này đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực điều phối phát triển du lịch quốc gia.

Về định hướng chiến lược, Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đã tạo khung định hướng quan trọng cho phát triển ngành trong giai đoạn mới. Năm 2024, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 08/CT-TTg về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững thời gian tới, thể hiện yêu cầu thúc đẩy du lịch phục hồi, tăng tốc nhưng phải đặt trong khuôn khổ chất lượng và bền vững.

anh-11-2-1688544220-1783354488.jpg
Hiệp hội Du lịch Việt Nam triển khai kế hoạch thực hiện nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững.

Như vậy, đến thời điểm kỷ niệm 66 năm ngày thành lập, ngành Du lịch Việt Nam đã đi qua ba lớp chuyển đổi lớn: từ phục vụ đối ngoại sang ngành kinh tế; từ tăng trưởng quy mô sang tăng trưởng chất lượng; từ phát triển truyền thống sang phát triển xanh, số, thông minh, bao trùm và có khả năng chống chịu.

8. Những thành tựu nổi bật sau 66 năm phát triển

Trước hết, ngành Du lịch đã khẳng định vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Từ quy mô rất nhỏ ban đầu, du lịch đã trở thành một trong những ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào GDP, tạo việc làm, thúc đẩy đầu tư, phát triển hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng nguồn thu cho nhiều địa phương.

Thứ hai, du lịch góp phần quan trọng quảng bá hình ảnh quốc gia. Thông qua du lịch, Việt Nam được biết đến rộng rãi hơn như một điểm đến an toàn, thân thiện, giàu bản sắc, có tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú, ẩm thực hấp dẫn, con người hiếu khách, môi trường chính trị - xã hội ổn định. Du lịch đã trở thành một kênh ngoại giao mềm, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức hấp dẫn của Việt Nam.

Thứ ba, hệ thống sản phẩm, điểm đến và doanh nghiệp du lịch phát triển mạnh. Từ một số tuyến, điểm và cơ sở dịch vụ ban đầu, Việt Nam đã hình thành mạng lưới điểm đến trên phạm vi cả nước, với nhiều sản phẩm đặc trưng: du lịch di sản, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch đô thị, du lịch nông nghiệp, du lịch MICE, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch ẩm thực, du lịch đêm và du lịch sáng tạo.

vien-kinh-te-du-lich-4-3-768x508-1783355057.jpg
TS. Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch phát biểu tại Tọa đàm “Tăng cường liên kết phát triển – Đa dạng hóa sản phẩm du lịch Hà Nội năm 2025”. Ảnh Việt Cường

Thứ tư, du lịch góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và tài nguyên. Nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật dân gian, tri thức bản địa được phục hồi, khai thác và lan tỏa thông qua hoạt động du lịch. Ở nhiều địa phương, du lịch tạo sinh kế mới cho cộng đồng, nâng cao ý thức bảo tồn di sản, bảo vệ cảnh quan và phát huy bản sắc văn hóa địa phương.

Thứ năm, năng lực hội nhập quốc tế của ngành ngày càng được nâng cao. Việt Nam tham gia tích cực vào các diễn đàn, tổ chức, cơ chế hợp tác du lịch khu vực và quốc tế; mở rộng liên kết với các thị trường trọng điểm; tăng cường xúc tiến quảng bá; từng bước xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.

9. Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới

Bên cạnh thành tựu, ngành Du lịch Việt Nam đang đối diện nhiều thách thức. Đó là cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt; biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến du lịch biển đảo, miền núi, di sản và sinh thái; yêu cầu giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa và bảo vệ môi trường ngày càng cấp thiết. Các nghiên cứu về phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh nhấn mạnh rằng du lịch xanh không chỉ là một loại hình sản phẩm, mà còn là phương thức phát triển dựa trên bảo tồn tài nguyên, quản lý xanh, kinh doanh xanh, tiêu dùng xanh, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm hài hòa lợi ích xã hội.

img-7558-1764729724-1783355258.jpg
Viện Kinh tế Du lịch dưới sự chỉ đạo của Hiệp hội Du lịch Việt Nam (HHDLVN), phối hợp Sở Khoa học – Công nghệ Bắc Ninh tổ chức Hội thảo khoa học “Chuyển đổi Du lịch Xanh tại Bắc Ninh: Tiềm năng, Thực trạng và Giải pháp”.

Mặt khác, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nền tảng số, truyền thông xã hội và kinh tế trải nghiệm đang thay đổi căn bản hành vi du khách. Khách du lịch ngày càng chủ động, cá nhân hóa nhu cầu, quan tâm nhiều hơn đến trải nghiệm bản địa, sức khỏe, môi trường, tính xác thực và giá trị cảm xúc. Điều đó đòi hỏi ngành Du lịch phải chuyển nhanh từ tư duy “bán cái mình có” sang tư duy “thiết kế trải nghiệm theo nhu cầu thị trường”.

Một vấn đề khác là chất lượng nguồn nhân lực. Dù số lượng lao động du lịch lớn, nhưng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, năng lực số, tác phong chuyên nghiệp, khả năng quản trị điểm đến và năng lực đổi mới sáng tạo còn chưa đồng đều. Đây là điểm nghẽn nếu Việt Nam muốn nâng cao năng suất, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh quốc tế.

10. Định hướng phát triển ngành Du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới

Thứ nhất, cần kiên định mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhưng phải hiểu “mũi nhọn” không chỉ ở quy mô khách hay doanh thu, mà ở chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức lan tỏa, hàm lượng văn hóa, công nghệ, môi trường và giá trị gia tăng. Du lịch Việt Nam cần chuyển từ mục tiêu tăng nhanh sang phát triển nhanh nhưng bền vững; từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng theo chất lượng; từ khai thác tài nguyên sang sáng tạo giá trị trên nền tảng tài nguyên.

Thứ hai, phát triển du lịch xanh phải trở thành trục xuyên suốt của mô hình phát triển. Cần đưa tiêu chí xanh vào quy hoạch, đầu tư, xây dựng sản phẩm, quản lý điểm đến, xếp hạng cơ sở lưu trú, hoạt động lữ hành, vận chuyển, tiêu dùng của du khách và truyền thông điểm đến. Những địa bàn nhạy cảm như biển đảo, vườn quốc gia, khu bảo tồn, di sản thế giới, vùng núi, vùng ven biển cần quản lý theo sức chứa, đánh giá tác động môi trường, kiểm soát rác thải, nước thải, phát thải carbon và bảo vệ cảnh quan.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong ngành Du lịch. Chuyển đổi số không chỉ là xây dựng website, ứng dụng hay quảng bá trực tuyến, mà là hình thành hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia, kết nối dữ liệu về khách, thị trường, cơ sở lưu trú, lữ hành, điểm đến, phản hồi du khách, chi tiêu, mùa vụ, năng lực phục vụ và dự báo xu hướng. Trên nền tảng đó, cơ quan quản lý có thể điều hành chính sách chính xác hơn, doanh nghiệp thiết kế sản phẩm hiệu quả hơn, địa phương quản trị điểm đến thông minh hơn.

670412851-122166839918669326-3231064040271089787-n-1783355644.jpg
Trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch Quốc tế Việt Nam VITM 2026, Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức tọa đàm về thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành du lịch.

Thứ tư, phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc, có chiều sâu và khả năng cạnh tranh quốc tế. Việt Nam cần ưu tiên các loại hình sản phẩm có lợi thế: du lịch văn hóa - di sản, du lịch biển đảo cao cấp, du lịch sinh thái và cộng đồng, du lịch nông nghiệp - nông thôn, du lịch ẩm thực, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch MICE, du lịch golf, du lịch đêm, du lịch sáng tạo và du lịch gắn với công nghiệp văn hóa. Mỗi vùng, mỗi địa phương cần có sản phẩm chủ lực, câu chuyện thương hiệu, biểu tượng trải nghiệm và chuỗi dịch vụ đồng bộ.

Thứ năm, nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến quốc gia. Muốn vậy, phải cải thiện mạnh mẽ kết nối hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thủy; nâng cao chất lượng dịch vụ cửa khẩu, thị thực, thông tin hỗ trợ du khách; bảo đảm an ninh, an toàn, vệ sinh môi trường; kiểm soát tình trạng chèo kéo, ép giá, gian lận thương mại; xây dựng văn hóa ứng xử văn minh tại điểm đến. Trải nghiệm của du khách phải được quản trị như một chuỗi liên tục, từ trước chuyến đi, trong chuyến đi đến sau chuyến đi.

668490639-3371925059635821-5231719189957124807-n-1775931814-1783355738.jpg
Ông Nguyễn Anh Vũ – Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh, Phó Giám đốc Công ty Cáp treo Fansipan Sa Pa đón tiếp đoàn VITM Famtrip đến từ 6 quốc gia và chụp ảnh tại Bản Mây.

Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao. Cần đổi mới đào tạo theo chuẩn nghề, tăng thực hành, gắn nhà trường với doanh nghiệp, nâng cao ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng giao tiếp liên văn hóa, quản trị trải nghiệm, quản trị khủng hoảng và năng lực sáng tạo sản phẩm. Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương cũng cần được nâng cao năng lực về quy hoạch, dữ liệu, marketing điểm đến, quản lý sức chứa, phát triển xanh và hợp tác công - tư.

Thứ bảy, tăng cường liên kết vùng và liên kết chuỗi giá trị. Du lịch không phát triển theo ranh giới hành chính mà theo không gian trải nghiệm của du khách. Vì vậy, cần thúc đẩy các hành lang du lịch, tuyến du lịch liên vùng, sản phẩm liên tỉnh, kết nối giữa đô thị - nông thôn - biển đảo - miền núi - di sản; đồng thời liên kết du lịch với nông nghiệp, công nghiệp văn hóa, thương mại, giao thông, môi trường, y tế, giáo dục, thể thao và kinh tế đêm.

Thứ tám, xây dựng năng lực chống chịu của ngành trước rủi ro. Sau Covid-19, ngành Du lịch cần có hệ thống quản trị rủi ro đối với dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, khủng hoảng truyền thông, biến động thị trường, xung đột địa chính trị và suy giảm kinh tế toàn cầu. Khả năng phục hồi nhanh phải trở thành một tiêu chí quan trọng trong quản trị ngành, quản trị doanh nghiệp và quản trị điểm đến.

Kết luận

Kỷ niệm 66 năm ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam là dịp để nhìn lại một hành trình nhiều gian khó nhưng rất đáng tự hào. Từ mốc 9/7/1960, ngành Du lịch đã đi qua chiến tranh, bao cấp, đổi mới, hội nhập, tăng trưởng bứt phá, khủng hoảng đại dịch và phục hồi mạnh mẽ. Trong mỗi giai đoạn, du lịch đều gắn với vận mệnh phát triển của đất nước và không ngừng mở rộng vai trò của mình: từ phục vụ đối ngoại đến phát triển kinh tế; từ giới thiệu hình ảnh quốc gia đến kiến tạo sinh kế; từ khai thác tài nguyên đến bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững.

eea69e06-c5df-49a3-8115-571ba5c3b40e-1783353654.png
 

Bước vào giai đoạn mới, Du lịch Việt Nam đứng trước thời cơ lớn để nâng tầm vị thế trên bản đồ du lịch thế giới. Nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực nếu ngành đủ bản lĩnh đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, phát triển xanh, chuyển đổi số, chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực, tăng cường liên kết và đặt trải nghiệm du khách làm trung tâm. Chặng đường 66 năm đã tạo nền tảng vững chắc; giai đoạn tới đòi hỏi một khát vọng lớn hơn, tư duy mới hơn và hành động quyết liệt hơn để Du lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, điểm sáng của hội nhập, biểu tượng của văn hóa Việt Nam và động lực quan trọng cho phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

2. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.

3. Thủ tướng Chính phủ (2024), Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 23/02/2024 về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững thời gian tới.

4. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, các báo cáo, tin tức và số liệu thống kê về tình hình phát triển du lịch Việt Nam các năm 2023, 2024, 2025 và 5 tháng đầu năm 2026.

5. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2020), Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch Việt Nam theo hướng tăng trưởng xanh.

6. Nguyễn Anh Tuấn (2022), Tham luận: Phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh - những vấn đề đặt ra và giải pháp.

 

TS. Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch