
Một chuyến đi nước ngoài có thể bắt đầu bằng cuộc hẹn với bác sĩ. Người đi quan tâm đến kết quả điều trị, lịch tái khám, nơi ở của người thân đi cùng, rồi mới tính đến những ngày nghỉ khi sức khỏe cho phép. Cách lựa chọn ấy đang tạo ra một thị trường mà ngành du lịch Việt Nam cần nhìn nhận nghiêm túc.

Theo Bộ Y tế và Phúc lợi Hàn Quốc, nước này đón khoảng 2,01 triệu bệnh nhân nước ngoài trong năm 2025, tăng từ 1,17 triệu năm 2024. Sức hút của dịch vụ y tế đã trở thành một lý do để khách vượt biên giới, bên cạnh văn hóa, ẩm thực hay mua sắm.
Tại Thái Lan, Bệnh viện Bumrungrad công bố hơn 604.000 lượt dịch vụ y tế dành cho người nước ngoài trong năm 2025; nhóm này bao gồm cả người nước ngoài cư trú tại Thái Lan và khách đến điều trị. Con số ấy cho thấy quy mô phục vụ quốc tế ngay ở cấp một bệnh viện, đồng thời nhắc rằng cần phân biệt bệnh nhân nước ngoài với khách du lịch y tế khi đánh giá thị trường.

Malaysia Healthcare Travel Council (MHTC) cung cấp hỗ trợ lựa chọn bệnh viện, lên kế hoạch điều trị, phối hợp lưu trú, đi lại và ngôn ngữ; dịch vụ đón tiếp được bố trí tại các sân bay KLIA, KLIA2 và Penang. Người bệnh có một đầu mối để hỏi, thay vì tự ghép từng mảnh của chuyến đi trong tâm trạng lo lắng.
Medical Tourism in Malaysia Bumrungrad cũng tổ chức đội ngũ phiên dịch, điều phối y tế quốc tế, phối hợp bảo hiểm và hỗ trợ gia hạn thị thực. Những dịch vụ tưởng như hậu cần ấy giải quyết các trở ngại rất thật: không hiểu chỉ định, chưa rõ chi phí, không biết liên hệ ai khi cần trợ giúp.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào dòng dịch chuyển này. Trong dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026–2030” đang được lấy ý kiến, Bộ Y tế đề xuất các nhóm sản phẩm gồm khám sức khỏe, tầm soát bệnh, nha khoa, hỗ trợ sinh sản, một số dịch vụ điều trị chuyên sâu, y học cổ truyền và phục hồi chức năng. Đến năm 2030, dự thảo đặt mục tiêu tối thiểu 20 bệnh viện đạt chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó có ít nhất năm bệnh viện công lập. Đây là những mục tiêu đề xuất, đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ.
Với du lịch, hướng mở đáng chú ý là khả năng thu hút một chuyến đi có mục đích rõ ràng, phát sinh nhu cầu lưu trú, vận chuyển, ăn uống và dịch vụ cho cả người bệnh lẫn người đồng hành. Nhìn vào cách các thị trường đi trước tổ chức dịch vụ, có thể thấy khoảng cách giữa một bệnh viện tốt và một điểm đến du lịch y tế hấp dẫn nằm ở rất nhiều việc ngoài phòng khám.

Bài học cho Việt Nam vì thế khá cụ thể. Trước khi quảng bá một gói khám chữa bệnh kết hợp nghỉ dưỡng, đơn vị cung cấp phải trả lời được người bệnh sẽ nhận thông tin bằng ngôn ngữ nào, ai tiếp nhận hồ sơ, báo giá bao gồm những gì, khoản nào có thể phát sinh và việc theo dõi tiếp tục ra sao khi khách về nước.

Từ góc nhìn phát triển sản phẩm, doanh nghiệp lữ hành có thể bắt đầu bằng những chương trình gọn, phù hợp năng lực đối tác: sắp xếp chuyến khám theo lịch hẹn, nơi ở thuận tiện, phương tiện di chuyển và hoạt động cho người thân đi cùng. Phần nghỉ dưỡng của người bệnh phải tuân theo đánh giá chuyên môn, đủ linh hoạt để thay đổi khi cần. Không thể lấy lịch tham quan làm khung rồi buộc việc điều trị chạy theo. Một trải nghiệm được tổ chức chu đáo sẽ tạo cơ sở để khách giới thiệu điểm đến; quảng cáo hấp dẫn đến đâu cũng khó bù lại cảm giác bị bỏ mặc sau khi thanh toán.
Việt Nam nhiều tiềm năng nhưng cần chuẩn hoá
Trong bài nghiên cứu về cơ chế, chính sách phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch, đề xuất phân định ba tầng sản phẩm: chăm sóc sức khỏe chủ động, phòng ngừa; chăm sóc sức khỏe có yếu tố chuyên môn y tế; và du lịch y tế gắn với khám, chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng. Theo cách tiếp cận của ông, mỗi tầng cần yêu cầu quản lý tương xứng với mức độ rủi ro, tránh để hoạt động có tính chất điều trị được cung cấp dưới tên gọi chăm sóc sức khỏe mà thiếu điều kiện chuyên môn. Sự phân định ấy giúp doanh nghiệp thiết kế đúng sản phẩm, cũng giúp du khách hiểu mình đang mua dịch vụ gì.

Ông Tuấn đồng thời nhấn mạnh lợi thế từ tri thức bản địa và sự cần thiết của chuỗi liên kết giữa du lịch, cơ sở y tế, dược liệu, cộng đồng, bảo hiểm. Giá trị của bài tắm người Dao đỏ, chẳng hạn, còn nằm ở vùng nguyên liệu, tri thức được gìn giữ và sinh kế của người dân; muốn phát triển lâu dài phải quan tâm đến cả chuỗi đó.

Từ những gợi mở này, có thể hình dung hướng đi riêng cho du lịch sức khỏe Việt Nam: cơ sở y tế đảm nhận phần chuyên môn, điểm nghỉ dưỡng tổ chức điều kiện lưu trú phù hợp, còn văn hóa địa phương tạo chiều sâu cho trải nghiệm trong phạm vi sức khỏe cho phép. Một chương trình phục hồi có thể kết nối với không gian nghỉ yên tĩnh; dịch vụ y học cổ truyền có thể đi cùng trải nghiệm tìm hiểu dược liệu, với thông tin công dụng được kiểm chứng và công bố đúng phạm vi. Mỗi địa phương nên chọn một vài sản phẩm đủ năng lực làm tốt, tích lũy uy tín qua từng khách hàng. Khi người bệnh biết rõ ai chịu trách nhiệm, được chăm sóc đến nơi đến chốn và vẫn nhận được hỗ trợ sau chuyến đi, Việt Nam mới có cơ sở để trở thành điểm đến họ chủ động tìm tới vì sức khỏe.