Từ một vụ việc về xuất xứ hàng hóa đến bài toán bảo vệ thương hiệu địa phương

Từ vụ gần 19 tấn việt quất nhập lậu bị phát hiện với nghi vấn lợi dụng xuất xứ Sơn La để đưa vào hệ thống phân phối, vấn đề đặt ra không chỉ là xử lý một đường dây buôn lậu. Sâu xa hơn, đây là lời cảnh báo đối với nhiều địa phương đang xây dựng thương hiệu nông sản, sản phẩm OCOP và du lịch trải nghiệm: khi tên gọi của một vùng đất đã tạo được niềm tin trên thị trường, chính tên gọi đó cũng có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa hàng hóa không rõ nguồn gốc. Bảo vệ xuất xứ hàng hóa vì thế không chỉ là bảo vệ một địa phương cụ thể, mà là bảo vệ uy tín của các vùng sản xuất, bảo vệ người làm thật và bảo vệ niềm tin đối với nông sản Việt Nam.

Theo VTV, Công an thành phố Hà Nội đã triệt phá đường dây nhập lậu gần 19 tấn việt quất tươi từ nước ngoài về Việt Nam, chưa qua kiểm định; cơ quan điều tra xác định khu vườn trồng việt quất tại Sơn La của các đối tượng mới bắt đầu ra quả nhỏ, chất lượng chưa đủ điều kiện cung cấp cho hệ thống siêu thị, nhưng bằng vỏ bọc này, hàng chục tấn việt quất không được phép nhập khẩu, không qua kiểm dịch đã được đưa đến tay người tiêu dùng. (Nguồn: VTV, “Gần 19 tấn việt quất nhập lậu được hợp thức hóa nguồn gốc để vào siêu thị”, ngày 02/7/2026).

z7998988358577-41317cb12ec67d0dbe28956eda18ea0d-1132-1782994103.webp
Việt quất nhập lậu được bày bán trên các kệ của siêu thị. Ảnh: VTV.

Báo Công an nhân dân cũng thông tin, từ đầu năm 2026, các đối tượng đã nhập lậu việt quất qua cửa khẩu quốc tế Kim Thành, tỉnh Lào Cai với khối lượng 5.574 kg và qua cửa khẩu quốc tế Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn với khối lượng 13.086 kg. Đáng chú ý, Công ty Greenland lập vườn trồng việt quất tại phường Mộc Sơn, tỉnh Sơn La với diện tích khoảng 6.000 m², tổng số 4.478 gốc cây, nhưng vườn đang trong giai đoạn thử nghiệm, điều kiện thổ nhưỡng chưa phù hợp, sản lượng thu hoạch thấp, không đáp ứng nhu cầu thị trường. (Nguồn: Báo Công an nhân dân, “Công ty Greenland nhập lậu quả việt quất tươi trị giá hơn 10 tỷ đồng”, ngày 02/7/2026)

Điều cần nhìn thấy từ vụ việc này không chỉ là câu chuyện riêng của một địa phương. Sơn La xuất hiện trong vụ việc như một trường hợp cụ thể, nhưng rủi ro mà vụ việc gợi ra có thể xảy ra với bất kỳ địa phương nào đã và đang xây dựng thương hiệu nông sản, vùng nguyên liệu, sản phẩm OCOP hoặc du lịch trải nghiệm. Khi một địa danh đủ uy tín để làm tăng giá trị sản phẩm, chính địa danh đó cũng có thể trở thành mục tiêu của hành vi “rửa xuất xứ”. Vì vậy, vấn đề không dừng lại ở việc một lô hàng bị phát hiện, mà là khả năng bảo vệ tính xác thực của thương hiệu địa phương trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Nếu các tình tiết ban đầu được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo đúng quy định của pháp luật, thì đây không chỉ là hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Thiệt hại lớn nhất có thể không nằm ở một lô hàng cụ thể, mà nằm ở sự suy giảm niềm tin đối với thương hiệu nông sản của một địa phương đang từng bước định vị hình ảnh trên bản đồ nông nghiệp và du lịch Việt Nam.

vuon-cam-moc-chau-6-1782997762.png
Du lịch trải nghiệm tại một vùng cây ăn quả ở Sơn La. Thương hiệu nông sản ngày nay không chỉ tạo giá trị kinh tế mà còn góp phần định hình hình ảnh điểm đến. Ảnh: Mộc Châu Island (Ảnh chỉ có tính minh họa cho mô hình du lịch nông nghiệp và thương hiệu nông sản địa phương, không liên quan đến vụ việc được đề cập trong bài)

Nói một cách gần gũi hơn, thương hiệu địa phương không chỉ là logo, khẩu hiệu hay một chiến dịch quảng bá. Đó là niềm tin được tích lũy qua chất lượng sản phẩm, cách tổ chức sản xuất, uy tín của người làm ra sản phẩm, bản sắc vùng đất và trải nghiệm của người tiêu dùng, du khách. Chính vì vậy, thương hiệu địa phương là tài sản vô hình có giá trị lớn, nhưng cũng rất dễ bị tổn thương nếu cam kết về xuất xứ, chất lượng và tính xác thực của sản phẩm không được bảo đảm.

Sơn La là một ví dụ điển hình cho quá trình kiến tạo loại tài sản vô hình này. Là một trong nhiều địa phương đang nỗ lực chuyển từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang xây dựng vùng nguyên liệu, thương hiệu nông sản và chuỗi giá trị gắn với thị trường. Giai đoạn 2016–2025, Sơn La đã chuyển đổi, trồng mới gần 62.000 ha cây ăn quả, nâng diện tích cây ăn quả và sơn tra lên 85.000 ha; sản lượng quả năm 2025 ước đạt 510.000 tấn, trở thành tỉnh có diện tích cây ăn quả lớn nhất miền Bắc và thứ hai cả nước. Cùng với đó, tỉnh có trên 4.750 ha được chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP và tương đương; 218 mã số vùng trồng; 31 sản phẩm nông sản, thực phẩm có thương hiệu, trong đó có 14 sản phẩm quả đã được cấp văn bằng bảo hộ; 59 sản phẩm quả được cấp chứng nhận OCOP. (Nguồn: Báo Sơn La, “Sơn La tổng kết 10 năm thực hiện chủ trương trồng cây ăn quả trên đất dốc”, ngày 16/5/2025).

624481195-122266180484182050-8744279803428240413-n-1782994226.jpg
Sản phẩm nông nghiệp Sơn La - Ảnh TTXT Đầu tư, Thương mại và Du lịch Sơn La

Nhiều địa phương khác cũng đang đi theo hướng tương tự: xây dựng vùng nguyên liệu, phát triển sản phẩm OCOP, gắn nông sản với du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và thương mại hiện đại. Do đó, khi một địa danh bị lợi dụng để hợp thức hóa hàng hóa không rõ nguồn gốc, thiệt hại không chỉ nằm ở một vụ việc đơn lẻ, mà còn tác động đến niềm tin đối với mô hình phát triển mà nhiều địa phương đang theo đuổi.

Đáng chú ý, Sơn La cũng đã đặt mục tiêu đến năm 2030 duy trì khoảng 90.000 ha cây ăn quả, sản lượng đạt 750.000–800.000 tấn; tối thiểu 25% diện tích đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hoặc tương đương; khoảng 25% diện tích vùng nguyên liệu được quản lý bằng cơ sở dữ liệu số, truy xuất nguồn gốc. Đề án cũng đặt nội dung hỗ trợ xây dựng hệ thống nhận diện, truy xuất nguồn gốc cho 40 doanh nghiệp, hợp tác xã; hỗ trợ xây dựng mã số, mã vạch cho 70 hợp tác xã và xây dựng 7 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ. (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, “Sơn La đặt mục tiêu 90.000 ha cây ăn quả, sản lượng 800.000 tấn”, ngày 11/4/2026)

Song, điều quan trọng hơn nằm ở chỗ nông sản Sơn La đã vượt ra ngoài phạm vi của một mặt hàng nông nghiệp để trở thành một phần trong cấu trúc thương hiệu của điểm đến. Những mùa mận tại Mộc Châu, những đồi dâu tây ở Vân Hồ hay các vùng cây ăn quả tại Yên Châu không chỉ tạo ra doanh thu từ sản phẩm mà còn tạo ra trải nghiệm cho du khách, góp phần hình thành loại hình du lịch nông nghiệp và du lịch trải nghiệm mà nhiều địa phương đang hướng tới.

Ở góc độ đó, giá trị của một quả mận hay một hộp dâu tây không chỉ được quyết định bởi chất lượng cảm quan, mà còn bởi câu chuyện về vùng đất, con người và quy trình sản xuất phía sau sản phẩm. Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn không chỉ vì họ mua một loại trái cây, mà vì họ tin tưởng vào xuất xứ của nó. Niềm tin ấy chính là nền tảng của thương hiệu địa phương. Một khi nền tảng này bị lung lay, những thiệt hại phát sinh sẽ vượt xa giá trị của một lô hàng bị thu giữ, bởi điều bị ảnh hưởng là uy tín của toàn bộ chuỗi giá trị mà địa phương đã dày công xây dựng.

687551534-10242756443229438-3244876423708340284-n-edited-1782995867.jpg
Mận Sơn La - Ảnh: Hà Ngô

Từ góc độ quản trị rủi ro, điều đáng chú ý trong vụ việc lần này không nằm ở hành vi thay đổi nhãn mác hay bao bì, những thủ đoạn vốn đã được nhận diện từ nhiều năm trước, mà ở xu hướng lợi dụng chính các công cụ quản lý hợp pháp để hợp thức hóa nguồn gốc hàng hóa. Theo thông tin ban đầu từ cơ quan điều tra, các đối tượng bị nghi đã sử dụng doanh nghiệp có thật, vùng trồng có thật và hệ thống chứng từ hợp pháp để tạo dựng một chuỗi hồ sơ có khả năng vượt qua các bước kiểm tra thông thường. Nếu kết quả điều tra cuối cùng xác nhận phương thức này, đây sẽ là dấu hiệu cho thấy các hành vi gian lận xuất xứ đang chuyển từ làm giả giấy tờ sang khai thác những khoảng trống của hệ thống quản trị.

Bản chất của vấn đề vì thế không còn nằm ở việc hồ sơ có đầy đủ hay không, mà ở khả năng xác thực dữ liệu đằng sau hồ sơ đó. Một mã số vùng trồng, một giấy chứng nhận hay một hóa đơn chỉ phản ánh tình trạng pháp lý của một chủ thể tại một thời điểm nhất định. Chúng không thể tự mình chứng minh rằng lượng hàng hóa đang lưu thông trên thị trường thực sự được tạo ra từ vùng nguyên liệu đã đăng ký. Khoảng cách giữa giấy tờ và thực tế sản xuất chính là không gian mà các hành vi gian lận có thể lợi dụng nếu hoạt động hậu kiểm không dựa trên dữ liệu và kiểm chứng thực địa.

Đây cũng là bài học mà nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển đã phải trả giá trước khi hoàn thiện hệ thống quản trị của mình. Nhật Bản từng siết chặt quy định về ghi nhãn xuất xứ sau vụ việc liên quan đến nghêu Asari năm 2022, trong khi Liên minh châu Âu xây dựng cơ chế bảo hộ chỉ dẫn địa lý (GI) với sự phối hợp đồng thời giữa cơ quan quản lý, tổ chức chứng nhận, hiệp hội sản xuất và hệ thống phân phối. Điểm chung của các mô hình này không nằm ở số lượng giấy phép hay mức độ phức tạp của thủ tục hành chính, mà ở khả năng đối chiếu liên tục giữa dữ liệu sản xuất, kiểm dịch, logistics và lưu thông hàng hóa để bảo đảm rằng mỗi sản phẩm mang tên một địa phương đều thực sự được tạo ra từ chính địa phương đó.

Bài toán bảo vệ thương hiệu địa phương không thể chỉ dựa vào truyền thông hay xử lý vi phạm sau khi sự việc xảy ra. Khi sản xuất đã chuyển sang vùng nguyên liệu lớn, liên kết chuỗi và xuất khẩu, quản trị thương hiệu phải đi cùng quản trị dữ liệu: vùng trồng, sản lượng, nhật ký sản xuất, đóng gói, vận chuyển, phân phối và hậu kiểm.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, sản phẩm OCOP và du lịch trải nghiệm, yêu cầu chuyển từ quản lý hồ sơ sang quản trị dữ liệu không còn là một lựa chọn mà đã trở thành điều kiện tiên quyết. Hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ chỉ phát huy ý nghĩa khi dữ liệu về vùng trồng, diện tích, năng suất, kiểm dịch, vận chuyển và tiêu thụ được kết nối, cập nhật và kiểm chứng theo thời gian thực. Khi đó, việc “rửa nguồn gốc” sẽ không còn dễ dàng thực hiện chỉ bằng một bộ hồ sơ hợp lệ.

Ở Việt Nam, Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Thông tư số 17/2021/TT-BNNPTNT ngày 20/12/2021 quy định về truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Quyết định số 100/QĐ-TTg; Thông tư số 17/2021/TT-BNNPTNT)

Từ đó có thể thấy, truy xuất nguồn gốc không nên dừng ở việc quét mã hoặc lưu một bộ hồ sơ, mà phải giúp xác định được lô hàng, nguồn gốc sản xuất, quá trình đóng gói, vận chuyển, phân phối và trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi. Chỉ khi dòng dữ liệu phản ánh đúng dòng hàng thực tế thì truy xuất nguồn gốc mới trở thành công cụ bảo vệ thương hiệu địa phương, thay vì chỉ là một thủ tục hình thức.

a2893da017e79cb63108db173e28e002add292f9-ea26-4cb7-82e8-4e5d02ffb79c-t1596077624666-1782996210.jpg
Niềm tin không chỉ đến từ vùng trồng mà còn từ khả năng truy xuất - Ảnh: Bộ Công Thương

Một điểm khác cũng cần được nhìn nhận là trách nhiệm của hệ thống phân phối. Trong chuỗi cung ứng hiện đại, siêu thị, chuỗi cửa hàng nông sản sạch và các đơn vị bán lẻ không chỉ là nơi đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng, mà còn là mắt xích bảo chứng niềm tin. Vì vậy, với các sản phẩm gắn địa danh, sản phẩm có giá trị cao hoặc sản phẩm được quảng bá là đặc sản vùng miền, việc thẩm định nhà cung cấp không nên chỉ dừng ở hợp đồng, hóa đơn, giấy chứng nhận, mà cần kiểm tra năng lực sản xuất thực tế, sản lượng cung ứng, nguồn hàng theo mùa vụ và tính nhất quán của hồ sơ truy xuất.

Từ vụ việc này, có thể rút ra một số yêu cầu quản trị chung đối với các địa phương đang phát triển thương hiệu nông sản và thương hiệu điểm đến. Thứ nhất, cần công khai, cập nhật dữ liệu về vùng trồng, cơ sở đóng gói, hợp tác xã, doanh nghiệp và sản phẩm chính thống để người tiêu dùng, nhà phân phối và cơ quan chức năng dễ kiểm chứng. Thứ hai, hoạt động hậu kiểm cần đối chiếu sản lượng bán ra với diện tích, năng suất, mùa vụ và năng lực bảo quản thực tế của từng vùng nguyên liệu. Thứ ba, tem truy xuất phải gắn với lô hàng cụ thể, ngày thu hoạch, cơ sở đóng gói và tuyến vận chuyển, thay vì chỉ dừng ở thông tin chung về địa danh. Thứ tư, các hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng nông sản sạch cần nâng trách nhiệm thẩm định nhà cung cấp. Thứ năm, các địa phương cần có cơ chế cảnh báo nhanh khi tên gọi, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận hoặc thương hiệu vùng bị lợi dụng để trục lợi.

Vụ việc đang được các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục điều tra và trách nhiệm pháp lý cuối cùng chỉ có thể được xác định bằng các kết luận chính thức. Tuy nhiên, ngay từ thời điểm này, bài học quản trị mà nó đặt ra đã rất rõ ràng.

Trong nền kinh tế hiện đại, giá trị của một vùng đất không chỉ nằm ở sản lượng nông sản, mà còn nằm ở mức độ tín nhiệm mà thị trường dành cho thương hiệu của vùng đất ấy. Sản lượng có thể đo bằng tấn, bằng hecta, bằng doanh thu; nhưng niềm tin lại được tích lũy bằng thời gian, bằng chất lượng thật và bằng sự minh bạch trong từng mắt xích của chuỗi cung ứng.

Một doanh nghiệp có thể bị xử lý, một lô hàng có thể bị thu giữ, nhưng nếu niềm tin của người tiêu dùng và du khách bị tổn hại thì quá trình phục hồi sẽ kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên. Bảo vệ xuất xứ hàng hóa vì thế không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chống buôn lậu hay cơ quan quản lý thị trường, mà còn là bảo vệ một tài sản chiến lược của quốc gia: thương hiệu địa phương, nền tảng của nông nghiệp chất lượng cao, của du lịch trải nghiệm và của sức cạnh tranh trong nền kinh tế hội nhập.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia chính thức vận hành từ ngày 1/7/2026

Từ ngày 1/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, lâm sản và thủy sản quốc gia vào vận hành trên phạm vi cả nước. Hệ thống được xây dựng nhằm kết nối dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở sản xuất, cơ sở đóng gói, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ, tạo nền tảng thống nhất cho hoạt động truy xuất nguồn gốc, phục vụ quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Việc hệ thống đi vào hoạt động đúng thời điểm vụ việc liên quan đến nghi vấn hợp thức hóa nguồn gốc việt quất được phát hiện cho thấy tính cấp thiết của việc chuyển từ quản lý hồ sơ sang quản trị dữ liệu. Tuy nhiên, hiệu quả của hệ thống sẽ không chỉ phụ thuộc vào hạ tầng công nghệ, mà còn ở chất lượng dữ liệu được cập nhật, khả năng liên thông giữa các cơ quan quản lý và cơ chế kiểm chứng xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến thị trường. Chỉ khi dòng dữ liệu phản ánh trung thực dòng hàng, truy xuất nguồn gốc mới thực sự trở thành công cụ bảo vệ người tiêu dùng, người sản xuất chân chính và thương hiệu nông sản Việt Nam.

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, lâm sản và thủy sản quốc gia.

Lê Tuấn - Việt Hà

Lê Tuấn - Việt Hà