Đánh thức những miền ký ức từ lòng đất

Quảng Ninh từ lâu được biết đến với Vịnh Hạ Long, Yên Tử và những vùng biển, đảo giàu sức hấp dẫn. Nhưng phía sau những điểm đến đã thành danh ấy còn một không gian du lịch đặc biệt: vùng đất của những mỏ than, những khai trường lộ thiên, những tầng đất đá đã in dấu hàng trăm năm khai thác, cùng những di tích lưu giữ ký ức về người thợ mỏ. Đó không chỉ là tài nguyên địa chất hay những công trình công nghiệp đã hoàn thành sứ mệnh sản xuất. Đó còn là một phần căn cước của Quảng Ninh.

 

di-tich-noi-bac-ho-ve-tham-mo-than-deo-nai-ngay-3031959-1789998762.jpg
Di tích nơi Bác Hồ về thăm mỏ than Đèo Nai ngày 30.3.1959.

Mới đây, tại buổi làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), lãnh đạo thành phố Quảng Ninh đề nghị TKV nghiên cứu tận dụng một số hạ tầng, không gian mỏ phù hợp để phát triển du lịch. Đề xuất này mở ra một hướng đi đáng chú ý: thay vì chỉ nhìn những khai trường đã dừng hoạt động như những khoảng không gian phải hoàn nguyên, có thể nghiên cứu để một phần trong số đó trở thành không gian sinh thái, giáo dục, trải nghiệm và du lịch di sản công nghiệp.

Những di tích lịch sử tiêu biểu ở Vùng mỏ

ong-khang-phat-bieu-1789999092.jpg
Chủ tịch UBND thành phố Quảng Ninh Bùi Văn Khắng phát biểu.

TKV hiện quản lý nhiều di tích gắn với lịch sử ngành Than tại Quảng Ninh. Trong đó có những địa điểm không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà hoàn toàn có thể trở thành những sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc trên bản đồ du lịch Việt Nam.

vu-anh-tuan-phat-bieu-1789999159.jpg
Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Vũ Anh Tuấn phát biểu.
quang-canh-hop-1789999198.jpg
Quang cảnh buổi làm việc của lãnh đạo thành phố Quảng Ninh với lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Đó là Ngã Tư đường lên mỏ Đèo Nai – nơi gắn với cuộc tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ ngày 12/11/1936, một dấu mốc làm nên truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của Vùng mỏ. Là Cụm di tích Cầu Poóc tích số 1 - Trận địa pháo cao xạ - Hầm chỉ huy của Xí nghiệp Tuyển than Cửa Ông, nơi ghi dấu những năm tháng vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ vùng than. Là địa điểm Bác Hồ thăm mỏ Đèo Nai năm 1959, nơi lưu giữ những Di tích lịch sử Bác Hồ với công nghiệp mỏ và sự quan tâm của Người đối với công nhân ngành Than.

cuoc-dinh-cong-1790001045.jpg
Di tích cuộc tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ ngày 12/11/1936.

Ở phường Hồng Gai còn có trụ sở Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (SFCT), công trình được xây dựng từ năm 1888, cơ bản còn giữ được dấu ấn kiến trúc lịch sử. Ở Mạo Khê là địa điểm khai thác than đầu tiên của Việt Nam, gắn với dấu mốc vua Minh Mạng chuẩn y việc khai thác than tại vùng núi Yên Lãng năm 1840. Còn Lò giếng đứng Mông Dương trầm tích về sự phát triển của công nghệ khai thác hầm lò và sức sáng tạo, bền bỉ của nhiều thế hệ thợ mỏ. Và sẽ là thiếu nếu nói về di sản ngành Than mà không nhắc tới Trận địa pháo phòng không 37mm mang tên người thợ mỏ, Anh hùng LLVT Đặng Bá Hát (Tuy di tích này đã được giao về địa phương quản lý).

Trận địa đặt trên điểm cao 104, dãy núi Ba Đèo thuộc phường Hồng Gai. Phiên hiệu C34 được thành lập năm 1968, đơn vị đã bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Ngày 12/7/1972, đơn vị chiến đấu anh dũng với máy bay Mỹ, Đại đội trưởng Đặng Bá Hát cùng nhiều đồng đội đã hy sinh. Liệt sĩ Đặng Bá Hát được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng LLVT, đơn vị được lấy tên người anh hùng thợ Mỏ. Trận địa Đặng Bá Hát được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Một địa chỉ khác cũng cần được nhìn nhận đúng tầm là nơi Binh đoàn Than xuất quân. Ngày 30/7/1967, gần 2.000 thợ mỏ và con em Vùng mỏ được tập hợp thành ba tiểu đoàn, sau này được biết đến với tên gọi Binh đoàn Than. Ngày 16/12/1967, lực lượng mang phiên hiệu 921 lên đường vào Nam. Sau 45 ngày đêm hành quân, đơn vị tới chiến trường B5 và tham gia chiến đấu trong giai đoạn Mậu Thân 1968.

Không gian mỏ sau khai thác – từ “nâu” sang xanh

bai-thai-chinh-bac-nui-beo-1789999289.jpg
Trả lại mầu xanh cho bãi thải mỏ.

Ngành Than còn sở hữu một kho báu tài nguyên du lịch khổng lồ. Đó là những khai trường lộ thiên, những tầng khai thác, bãi thải đã được phủ xanh, những tuyến đường công nghiệp, hệ thống mặt bằng sản xuất và đặc biệt là những lòng moong sau khi kết thúc khai thác. Moong 917, của Công ty Than Hòn Gai tại phường Cao Xanh là một ví dụ đáng chú ý. Sau khi dừng khai thác, khu vực này được cải tạo thành hồ nước ngọt với dung tích khoảng 20 triệu m3, đồng thời ngành Than tiếp tục trồng cây, phủ xanh các khu vực phù hợp. Những tầng đất đá từng là dấu tích của hoạt động khai thác đang từng bước chuyển thành cảnh quan mới.

Đây chính là điểm có thể mở ra một cách nhìn khác về “di sản mỏ”. Một lòng moong sâu không nhất thiết phải hoàn nguyên sau khi mỏ đóng cửa. Một tuyến đường công nghiệp không nhất thiết phải mất đi giá trị khi xe chở than không còn qua lại. Một khai trường rộng lớn, nếu được đánh giá đầy đủ về địa chất, thủy văn, môi trường và an toàn, có thể được tái thiết thành hồ cảnh quan, công viên sinh thái, điểm ngắm cảnh, tuyến trải nghiệm địa chất hoặc không gian giáo dục về công nghiệp khai khoáng.

Tất nhiên, đây không phải là cứ đóng cửa mỏ là mở cửa đón khách. An toàn phải là điều kiện tiên quyết. Chất lượng nước, ổn định địa chất, nguy cơ sạt lở, kết cấu bờ tầng, hệ thống giao thông, khả năng tiếp cận và sức chịu tải môi trường đều cần được đánh giá nghiêm ngặt. Chính ngành du lịch Quảng Ninh cũng đã chỉ ra những yêu cầu này, khi nghiên cứu hướng đánh thức tiềm năng du lịch mỏ.

TKV không đứng ngoài khai thác kinh tế di sản

2-tet-qui-suu-1973-chu-tich-ubnd-tinh-quang-ninh-nguyen-ngoc-dam-trao-lang-hoa-cua-chu-tich-nuoc-ton-duc-thang-tang-don-vi-tai-tran-dia-phao-37mm-tren-dinh-cao-104-1789999452.jpg
Tết Quí Sửu (1973), Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Ngọc Đàm, trao lẵng hoa của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng đơn vị tại trận địa pháo 37mm trên đỉnh cao 104
4-con-chau-liet-si-1789999559.jpg
Thân nhân và du khách viếng thăm trận địa pháo cao xạ của tự vệ xí nghiệp tuyển than Hồng Gai, nơi Đại đội trưởng Đặng Bá Hát cùng nhiều đồng đội đã hy sinh.

Có một điều cần được nhìn nhận rõ: nhiều di tích của ngành Than đã được giao cho địa phương quản lý, nhưng việc chuyển giao trách nhiệm quản lý nhà nước không có nghĩa TKV đứng ngoài việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản, mà chính mình là cái nôi hình thành văn hóa cách mạng ở vùng than Quảng Ninh.

Bởi những địa điểm ấy là một phần lịch sử của chính ngành Than. Những người thợ mỏ trong cuộc tổng bãi công năm 1936, những cỗ pháo phòng không của lực lượng tự vệ Mỏ, những người lính Binh đoàn Than xuất thân từ thợ mỏ, những thế hệ công nhân đã xuống hàng trăm mét dưới lòng đất hay đứng giữa khai trường trong mưa bom, bão đạn vì “ tổ quốc cần than” đều thuộc về ký ức chung của Vùng mỏ.

Vì vậy, TKV có thể không trực tiếp làm du lịch, nhưng rất cần tham gia vào quá trình biến những di sản ấy thành sản phẩm du lịch có chiều sâu. Đó có thể là cung cấp tư liệu, hiện vật, nhân chứng; phối hợp xây dựng các tuyến tham quan; bảo tồn máy móc, thiết bị, công trình đặc trưng; hỗ trợ chuyên môn về kỹ thuật mỏ; cùng địa phương xây dựng không gian bảo tồn văn hóa về nghề mỏ. Quan trọng hơn, TKV có thể cùng Quảng Ninh nghiên cứu một chiến lược dài hạn đối với những không gian mỏ sau khai thác. Giải quyết vấn đề xã hội, lao động sau giải nghệ khi hết than đóng cửa mỏ.

Đây cũng là cách để ngành Than tham gia sâu hơn vào hành trình chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh” của Quảng Ninh. Địa phương đang định hướng lấy kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa gắn với du lịch làm một trong những động lực chuyển đổi mô hình phát triển; trong đó di sản là lõi, công nghiệp văn hóa là công cụ chuyển hóa và du lịch là kênh lan tỏa.

Từ Vịnh Hạ Long đến Yên Tử, từ biển đảo đến vùng mỏ, bản đồ du lịch Quảng Ninh đang có cơ hội mở rộng thêm một lớp không gian mới. Ở đó, du khách không chỉ nhìn thấy một vùng đất đẹp, mà còn có thể hiểu vì sao vùng đất này được tạo nên bởi than, bởi biển và bởi những con người đã sống, lao động, chiến đấu trên vùng Đông Bắc.

Một khai trường sau khai thác được phủ xanh. Một lòng moong trở thành mặt hồ sinh thái. Một trận địa pháo trở thành sản phẩm du lịch với hiện vật và ký ức quý giá. Một địa điểm xuất quân được kết nối với hành trình của những người thợ mỏ ra trận. Những mảnh ghép ấy, nếu được kết nối thành chuỗi sử thi, sẽ tạo nên một dòng du lịch riêng: du lịch di sản công nghiệp của Vùng mỏ.

Khi ấy, những gì từng được gọi là “không gian mỏ” sẽ không còn chỉ là ký ức của một nền công nghiệp. Chúng có thể trở thành tài sản văn hóa mới, góp phần tạo sinh kế, giáo dục truyền thống và mở thêm một cánh cửa để thành phố Quảng Ninh kết nối với du khách bằng chính những dấu tích mà lịch sử đã để lại.

Vũ Phong Cầm