Một chiều cao nguyên, bên ấm trà nóng trong căn nhà gỗ ở bản Hua Tạt, Tráng A Chu nhắc lại câu chuyện đã hơn mười năm trước. Anh vẫn nhớ những ngày một đoàn làm phim trẻ xuất hiện ở bản. Họ không hỏi nơi nào có khách sạn đẹp, cũng không tìm những ngôi nhà mới xây. Điều họ cần là một căn nhà gỗ đã nhuốm màu thời gian, một hàng rào đá phủ rêu, một bếp lửa còn vương khói và con đường đất trơn trượt sau cơn mưa.
Đó là những ngày bộ phim điện ảnh Và anh sẽ trở lại được thực hiện tại Mộc Châu.
Năm 2013, Mộc Châu chưa phải cái tên xuất hiện dày đặc trên các bản đồ du lịch. Người ta nhớ đến cao nguyên này bằng những đồi chè xanh, mùa hoa cải trắng, những vườn mận mỗi độ xuân về và cuộc sống bình dị của đồng bào các dân tộc.
Đạo diễn Đinh Tuấn Vũ khi ấy mới bắt đầu khẳng định tên tuổi. Đỗ Thanh Sơn đảm nhiệm vai trò nhà sản xuất, trực tiếp tổ chức đoàn phim trong điều kiện còn nhiều khó khăn của vùng cao. Họ chọn Mộc Châu không phải vì nơi đây đã nổi tiếng, mà bởi vẫn còn giữ được một vẻ nguyên bản hiếm có, điều mà những người làm điện ảnh luôn kiếm tìm.

Năm ấy, Đinh Tuấn Vũ và Đỗ Thanh Sơn đều còn ở những năm đầu của con đường làm nghề. Một người mang theo khát vọng kể chuyện bằng điện ảnh, một người lặng lẽ lo từng bối cảnh, từng chặng đường để bộ phim có thể thành hình. Họ cùng nhìn thấy ở Mộc Châu không chỉ một địa điểm quay phim, mà là một không gian văn hóa còn gần như nguyên vẹn. Những nếp nhà gỗ của người Mông, hàng rào đá, bếp lửa, con đường đất và nhịp sống bình dị của đồng bào không chỉ tạo nên phông nền cho câu chuyện trên màn ảnh, mà chính là một phần linh hồn của bộ phim.
Thời gian sau đó đã chứng minh lựa chọn của hai người trẻ năm ấy là đúng.
Đinh Tuấn Vũ dần khẳng định vị trí của mình trong điện ảnh Việt Nam với nhiều tác phẩm giàu dấu ấn như “Cuộc đời của Yến”, “Chờ em đến ngày mai”, “Truyền thuyết về Quán Tiên” và nhiều giải thưởng chuyên môn. Nhưng nhìn lại hành trình sáng tạo ấy, “Và anh sẽ trở lại” vẫn mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó là một trong những bộ phim đầu tiên đưa vẻ đẹp của Mộc Châu lên màn ảnh rộng bằng một ngôn ngữ điện ảnh giàu cảm xúc, trước khi cao nguyên trở thành điểm đến quen thuộc trên bản đồ du lịch Việt Nam.
Còn với Đỗ Thanh Sơn, đó không chỉ là một dự án sản xuất, mà là khởi đầu của mối gắn bó kéo dài hơn một thập kỷ với Sơn La và khát vọng phát triển du lịch điện ảnh từ chính những giá trị bản địa.
Mười ba năm trước, Mộc Châu chưa có cầu kính Bạch Long, thác Dải Yếm còn hoang sơ, du lịch cộng đồng vẫn là khái niệm khá mới với nhiều bản người Mông. Điều đoàn phim tìm kiếm không chỉ là một bối cảnh đẹp mà là một Mộc Châu đúng như nó vốn có. Nhìn từ hôm nay, những khuôn hình của Và anh sẽ trở lại không chỉ mang giá trị điện ảnh mà còn lưu giữ những lát cắt chân thực về cảnh quan và đời sống của cao nguyên trước khi du lịch phát triển mạnh.

Ít ai nghĩ rằng, hơn một thập kỷ sau, điều còn ở lại từ bộ phim không chỉ là những thước phim trên màn ảnh. Quan trọng hơn, đó là câu chuyện về cách điện ảnh góp phần làm thay đổi nhận thức của một người dân địa phương đối với chính quê hương mình.
Đoàn phim không chỉ tìm thấy bối cảnh ở Mộc Châu mà còn nhận được sự đồng hành của chính người dân địa phương. Trong một cảnh chợ phiên của bộ phim, gần như cả bản Hua Tạt cùng tham gia làm diễn viên quần chúng. Không ai từng đứng trước máy quay. Họ không phải diễn. Họ chỉ mang vào bộ phim chính cuộc sống thường ngày của mình: những bộ váy áo truyền thống, chiếc gùi trên lưng, gánh hàng, nông sản và nụ cười của những người đi chợ vùng cao. Có lẽ chính vì vậy mà khung cảnh chợ phiên trong phim mang một vẻ chân thực rất khó tạo dựng bằng diễn viên chuyên nghiệp.

Ngày ấy, A Chu chưa làm du lịch. Anh chỉ là một chàng trai người Mông nhiệt tình giúp đoàn phim đi khắp các bản làng, tìm những ngôi nhà phù hợp với bối cảnh, kết nối bà con và xử lý đủ mọi công việc phát sinh trong quá trình quay. Đó đơn giản là sự giúp đỡ chân thành của một người dân địa phương dành cho những người làm điện ảnh từ Hà Nội lên núi.
Nhưng cũng chính quãng thời gian ấy đã để lại trong anh một ấn tượng đặc biệt.
Nhiều năm sau, khi nhắc lại những ngày làm phim Và anh sẽ trở lại, cả đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, nhà sản xuất Đỗ Thanh Sơn và Tráng A Chu đều cho rằng bộ phim đã mang lại nhiều hơn những gì họ hình dung lúc bấy giờ.
Điều A Chu nhớ không phải là máy quay hay ánh đèn. Anh không nhớ đoàn phim đã quay bao nhiêu cảnh. Anh nhớ cách cả đoàn phim nâng niu những điều vốn rất bình thường ở bản làng. Một căn nhà gỗ cũ được lựa chọn kỹ lưỡng trước khi bấm máy. Một hàng rào đá được quay ở nhiều góc khác nhau. Một bếp lửa đang đỏ than cũng đủ để cả ê-kíp kiên nhẫn chờ đúng khoảnh khắc ánh sáng đẹp nhất.

A Chu kể: "Ngày ấy tôi mới biết, hóa ra cái nhà mình ở hằng ngày cũng có thể đẹp đến thế. Đoàn phim cứ đứng ngắm mãi một hàng rào đá hay bếp lửa mà trước đây mình chẳng bao giờ để ý."
Điều khiến anh ngạc nhiên là những gì mình vẫn đi qua mỗi ngày, dưới góc nhìn của những người làm điện ảnh, lại mang một vẻ đẹp khác. Có lẽ chính từ những ngày ấy, A Chu bắt đầu nhìn bản làng bằng một ánh mắt khác.
Sau khi bộ phim hoàn thành, Tráng A Chu bắt đầu nghĩ đến việc làm du lịch.
Anh không lựa chọn xây dựng những công trình hiện đại hay thay đổi diện mạo của bản làng để chạy theo thị hiếu du khách. Ngược lại, anh giữ gần như nguyên vẹn ngôi nhà gỗ của gia đình, bếp lửa, nếp sinh hoạt và không gian văn hóa của người Mông.
Và rồi chính những điều tưởng như bình dị ấy lại trở thành lý do để du khách tìm đến Hua Tạt.
Có những vị khách đến từ bên kia bán cầu, tìm đến bản không phải để nghỉ dưỡng trong những khu resort sang trọng, mà để sống vài ngày trong một ngôi nhà của người Mông, ăn bữa cơm của người Mông, nghe những câu chuyện của người Mông và cảm nhận nhịp sống đã tồn tại từ rất lâu trước khi du lịch xuất hiện.
Từ một vài căn homestay ban đầu, mô hình của Tráng A Chu dần lan tỏa sang nhiều hộ dân khác. Hua Tạt trở thành một trong những điểm sáng của du lịch cộng đồng tại Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, không phải vì thay đổi bản làng, mà bởi biết gìn giữ những giá trị vốn có.

Điện ảnh đã làm thay đổi số phận của không ít điểm đến trên thế giới. New Zealand được nhắc đến cùng The Lord of the Rings, Hàn Quốc với Winter Sonata, Croatia với Game of Thrones. Những bộ phim ấy không chỉ mang khán giả đến rạp, mà còn đưa du khách đến với những vùng đất nơi câu chuyện được kể.
Ở Mộc Châu, Và anh sẽ trở lại không tạo nên một "cơn sốt" du lịch ngay sau khi công chiếu.
Nhưng bộ phim lại để lại một tác động âm thầm hơn. Nó góp phần giúp một người dân địa phương nhận ra giá trị của chính không gian sống mà mình gắn bó từ nhỏ. Từ nhận thức ấy, một mô hình du lịch cộng đồng từng bước hình thành và phát triển. Có lẽ, đó cũng là điều mà không một kịch bản nào có thể dự liệu trước.
Hơn mười năm sau, trở lại Sơn La với những dự án điện ảnh mới và ý tưởng phát triển mạng lưới phim trường mở gắn với du lịch, nhà sản xuất Đỗ Thanh Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm khi thực hiện Và anh sẽ trở lại.
"Điều chúng tôi cần không phải là dựng bối cảnh, mà là tìm được một Mộc Châu, một Sơn La đúng như nó vốn có."
Chiều Hua Tạt lại có mưa.
Bếp lửa trong căn nhà gỗ của Tráng A Chu vẫn đỏ. Ngoài hiên, vài vị khách nước ngoài tỉ mẩn vẽ sáp ong trên vải lanh rồi lặng im nghe chủ nhà kể về những ngày cả bản cùng theo đoàn phim, khi nhiều người lần đầu tiên đứng trước ống kính để góp một phần rất nhỏ vào Và anh sẽ trở lại.
Hơn mười năm đã trôi qua.
Bộ phim đã kết thúc từ lâu.
Nhưng có những câu chuyện, cũng giống như những con đường trên cao nguyên, chỉ thực sự bắt đầu khi tiếng hô "Cắt!" khép lại một cảnh quay.

Một số hình ảnh về quá trình thực hiện bộ phim Và anh sẽ trở lại tại Mộc Châu năm 2013