Trống hội khai mạc Lễ Hội khánh thành công trình trùng tu mở rộng Di tích đền thờ Vua Lê Thái Tổ.
Vắn tắt lời dẫn Dự án đầu tư trùng tu mở rộng Di tích đền thờ Vua Lê Thái Tổ, thì ngôi đền được xây dựng vào Khoảng cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, thời Lê Trung Hưng. Triều đình có sắc phong công trạng vị vua đầu triều Nhà Lê, sức cho tri huyện lập đền, định lễ xuân thu, hương hỏa thờ cúng nơi từng in dấu chân Thái Thượng Hoàng trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh ở đất này. Trải qua thời gian mỏi mòn với thăng trầm của lịch sử, Đền đã nhiều lần bị hư hại, được Nhân dân hưng công phục dựng khang trang vào năm 1999. Đến nay sau hơn 25 năm sử dụng, quy mô và hiện trạng công trình không còn đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng, văn hóa tâm linh và xu hướng phát triển du lịch tâm linh trong nước, quốc tế và khu vực.
Đền Vua Lê Thái Tổ lớn hàng đầu Việt Nam
Xuất phát từ ý nghĩa lịch sử, yêu cầu bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa - tâm linh, tỉnh Quảng Ninh đã đầu tư cụm dự án khu vực Đền thờ Vua Lê Thái Tổ quy hoạch đồng bộ, quy mô tổng diện tích hơn 21 ha, tổng mức đầu tư gần 700 tỷ đồng. Dự án huy động hài hòa giữa nguồn ngân sách nhà nước và nguồn xã hội hóa; trong đó, nguồn ngân sách nhà nước là 389 tỷ đồng, nguồn xã hội hóa là gần 300 tỷ đồng.
Dự án gồm 4 dự án thành phần: xây dựng đường liên khu vực và một phần đường chính khu vực tiểu khu 13.2; xây dựng đường liên khu vực, đường chính khu vực tiểu khu 13.2 (giai đoạn II) và đường giao thông xung quanh Đền thờ Vua Lê; xây dựng hạ tầng, cảnh quan xung quanh Đền Vua Lê Thái Tổ (giai đoạn III). Riêng dự án tu bổ, tôn tạo, mở rộng di tích Đền thờ Vua Lê Thái Tổ có quy mô 1,67 ha, tổng mức đầu tư 211 tỷ đồng, được thực hiện hoàn toàn bằng nguồn vốn xã hội hóa.
Dự án Di tích đền thờ Vua Lê bao gồm: Đền chính, gồm Tiền tế, Đại bái và Hậu cung, diện tích 1.080 m2; Miếu thờ Đức ông Quan giám sát và Miếu thờ Bà Chúa, diện tích 301m2; Nhà Tả vu-Hữu vu, diện tích 297 m2; Lầu Chuông-Lầu Trống, diện tích 105 m2; Nghi môn Nội, diện tích 151 m2; các hạng mục tu bổ cổng đền hiện trạng, móng đôi voi chầu, Nghi môn Ngoại... khoảng 500m2.
“Ta sống thì làm vua, chết thì về làm Thành hoàng ở nơi đất này.”
Đền Vua Lê Thái Tổ ở Xóm Mũ, thôn Đống Chợ, hạ lưu Sông Trới thuộc phường Hoành Bồ, sớm chiều trống-chiêng, hương bay khói tỏa, ngày rằm du khách đến đông như trải hội. Cụ Phạm Văn Doanh trên 90 tuổi, người dân gia phả kỳ cựu ở thôn An Biên gần ngôi đền bảo, khi còn trẻ rất tín ngôi đền thiêng này. Ngôi đền có nhiều điển tích lịch sử, còn lưu giữ được nhiều cổ vật, vật liệu xây dựng thời xa xưa. Một ngôi đền duy nhất ở Quảng Ninh thờ Vua Lê Thái Tổ, nhà vua sáng lập ra triều đại Hậu Lê. Lê Lợi, người khai sáng binh pháp vệ quốc trường kỳ từ thời Nhà nước phong kiến Việt Nam với tráng ca: “Mười năm kháng chiến chống quân Minh”. Đất nước ta khi còn giặc ngoại xâm, Bác Hồ dạy: “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi...”. Lê Lợi, một người anh hùng của dân tộc, đang được đề nghị là Tổ Trung Hưng thứ hai của Việt Nam.
Ngôi đền có nét quy hoạch-kiến trúc đặc trưng nghè, miếu, đền đài, lăng tẩm, công trình văn hóa thờ tự cổ đại ở Việt Nam. Thần sắc, thần phả thất lạc, truyền tục ngôi đền xây dựng vào thời Lê Trung Hưng hoặc thời nhà Mạc, bởi cổ vật lưu giữ tại đền còn 12 tảng đá lớn kê chân cột và nhiều gạch ngói vật liệu xây dựng niên đại thời Hậu Lê, và 14 đồ dùng bằng sành sứ thời nhà Mạc. Bức tượng Lê Lợi tạc bằng lõi Mít, lõi mít cổ thụ lớn đến hai người ôm không xuể. Tương truyền, trong một trận mưa to-gió lớn, khúc gỗ từ biển trôi dạt vào đất này cùng thời điểm quan huyện xức cho dân làng xây đền, người sùng tín cho là điềm lành trời phú, bèn trục vớt đưa vào bờ rồi dùng để tạc tượng Lê Lợi.
Theo văn bia, ngôi đền đã 5 lần trùng tu xây dựng lại. Tòa chính điện hình chữ nhị, gồm 3 gian bái đường và 3 gian hậu cung, có sân đền, cổng đơn cổ kính, không tam quan như công trình thờ tự sau này. Đại tự trên nghi môn có 3 chữ nôm tạc nổi, tạm dịch “TỐI LINH TỪ”. Tả hữu cột trụ nghi môn có cặp câu đối, tạm dịch một vế đối là: “Đến chiêm bái lời cổ nhân sáng tỏ”, vế đối kia là “vào tất rõ đền miếu đẹp hiển nhiên”. Qua cổng nghi môn là sân đền có lư hương và bàn thờ trung thiên, tiếp đến là bậc tam cấp với 2 ông voi đá cổ chầu lưỡng bên bài. Gian bái đường thoáng rộng, tiền đường phía trên xà có treo 1 đại tự bằng gỗ Gụ, chạm rồng chầu nhật nguyệt khắc 4 chữ nôm cổ màu đồng hun tạm dịch: “Thượng đẳng tối linh”, có nghĩa là: Vị thần được thờ ở đây đã được đạo sắc phong là Thượng Đẳng Thần và vị thần này rất linh ứng. Phía ngoài khuôn viên có tường bao quanh, tạo thành một không gian biệt lập, đầy vẻ thiêng liêng cố kính.
Chiếc cổng đền xây đơn có niên đại khoảng 500 năm. Công trình xây mới vẫn giữ lại được cổng đền cũ.
Tương truyền, khi còn chinh chiến với quân Minh, một lần lui binh tránh cường địch ở bờ bắc Cửa Lục. Trong giờ phút lâm nguy, địch quân kéo đến truy sát mà Lê Lợi gặp xác một phụ nữ y phục trắng, chết vô địa táng, ông vẫn nhân hậu, bình tĩnh cho binh sĩ dừng chân khâm liệm, mai táng kẻ xấu số hẳn hoi rồi mới rút quân. Lê Lợi không ngờ đó là một nữ thần hạ giới thử lòng nghĩa hiệp của ông. Khi quân địch đến gần thì nữ thần biến thành con cầy trắng, từ nơi Lê Lợi ẩn nấp chạy ra đánh lạc hướng quân địch, giải thoát cho Lê Lợi.
Hoàn binh, phối trí lại lực lượng ở bờ Bắc Cửa Lục, một lần đứng trên một gò đất cao trong số chín gò đất tự nhiên vượt thổ bãi triều ngập mặn như tòa Cửu Long ở đây, nhìn thế đất phong thủy, người dân bản địa nghĩa tình đã giúp ông thoát vòng vây của giặc. Tại đây, trước ba quân, Lê Lợi đã cắm lưỡi kiếm xuống đất và nguyện rằng: “ Ta sống làm vua, chết sẽ làm thần bảo vệ dân làng này”. Khi vua Lê Lợi băng hà, triều đình sắc phong xây đền, cấp hương hỏa, định lễ thờ cúng xuân thu nhị kỳ nơi văn bia khẩu dụ của Lê Lợi, chiêm bái lời cổ nhân “Tối Linh Tự”
Đền chính thần thờ Lê Lợi có phối thờ Lê Lai, Nguyễn Trãi và Thành hoàng làng. Dân địa phương còn phát tâm xây dựng miếu thờ nữ thần đã giáng trần giúp dân, giúp nước ngày ấy giả làm người chết rồi biến thành con cầy, đánh lạc hướng quân địch cứu nguy cho Lê Lợi. Vị nữ thần ấy dân truyền tục gọi là bà Lê Thị Út và gọi lăng thờ tự là miếu thờ Bà Chúa.
Đền thờ Lê Lợi là một trong những Di tích lịch sử văn hóa có nhiều sắc phong nhất ở Quảng Ninh, với 5 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến khác nhau. Riêng Nhà Nguyễn có 2 sắc phong, một sắc phong năm 1821 và một sắc phong năm 1846. Sắc phong của vua Gia Long ban năm 1821, truy phong mỹ tự “ Gia tặng Thượng đẳng thần” và chiếu chỉ cho tổng Trí Xuyên, tri huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Yên (trước kia là Lộ An Bang) giữ lễ phụng thờ, hương ước chính lễ rước thần vào rằm tháng 11 thường niên.
Một cụ nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh (không nên tên) bảo, khi còn công tác biết có lần Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm và làm việc ở Quảng Ninh, đã tắt đường đến thăm đền Lê Lợi với tư cách là hậu duệ của dòng họ Lê. Tổng Bí thư Lê Duẩn đi thăm Đền không công khai, vì khi ấy cao trào bài trừ văn hóa phong kiến, Tổng Bí thư đã phải kín đáo phát tâm tiền của cá nhân mình cho thôn làng tu sửa đền Vua Lê. Theo đó các xã Trí Xuyên, Yên Mỹ, Dư Xá được hợp nhất lấy tên là xã Lê Lợi. Và khi Quảng Ninh trưng cầu ý kiến nhân dân thay tên cầu Cửa Lục I thành cầu Tình Yêu, thì chính cụ nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh này có ý kiến bằng văn bản riêng, đề nghị Tỉnh ủy nên đặt tên cầu là cầu Lê Lợi cho có ý nghĩa lịch sử, vì mố cầu đặt ngay thổ đất gần đền Lê Lợi.
Điểm du lịch tâm linh vùng Bắc Cửa Lục.
Với trầm tích lịch sử, đền Lê Lợi không chỉ gợi cho người dân Quảng Ninh một sử tích đáng tự hào. Nơi rồng xuống, có thổ đất mà Lê Lợi cắm lưỡi gươm xuống đất, nguyện thề vệ quốc với non sông khi còn khởi binh đánh giặc. Thủ đô Hà Nội, đất Thăng Long, nơi rồng thăng thiên khi dẹp giặc xong, Lê Lợi trả gươm xuống đáy nước, nay là hồ Hoàn Kiếm...Quả là một cặp điển tích ngẫu nhiên thú vị thu hút du khách xa gần.
Đền thờ vua Lê Lợi ở bờ bắc vịnh Cửa Lục, một vùng đất trầm tích lịch sử văn hóa, với huyền thoại dấu chân ông khổng lồ gánh đá vá trời. Danh sơn núi Mằn di tích Quốc gia với đền Đá trắng duy nhất Việt Nam chính thần thờ thượng tiên lão mẫu. Nơi đây còn lưu tích chính sử bến Đồng, bến gạo rang trong chuỗi thương cảng Vân Đồn có từ thời nhà Lý. Thời Nhà Trần, Trần Khách Dư từng ém quân ở đây rồi phục binh làm nên trận hải chiến Lục Thủy kinh điển năm 1288. Nhà Mạc thì dựng thành Xích Thổ ở đây. Đền thờ tiến sĩ Vũ Phi Hổ, người khoa cửa đầu tiên ở vùng Đông Bắc… Đền thờ Vua Lê Thái Tổ, điểm sáng trong chuỗi các công trình du lịch tâm linh vùng Bắc Cửa Lục.
Hình ảnh Lễ Hội đề Vua Lê Thái Tổ:
Vũ Phong Cầm